“VÌ SAO LUÔN LUÔN CÓ NHỮNG LÀN SÓNG CHỬI RỦA NGÀNH GIÁO DỤC?” plus 3 more |
- VÌ SAO LUÔN LUÔN CÓ NHỮNG LÀN SÓNG CHỬI RỦA NGÀNH GIÁO DỤC?
- PHỐ NHÀ RƯỢU
- Kẻ ngạo mạn, kẻ cúi đầu
- Trưởng Thành từ lũy tre Dương Nội
| VÌ SAO LUÔN LUÔN CÓ NHỮNG LÀN SÓNG CHỬI RỦA NGÀNH GIÁO DỤC? Posted: 17 Sep 2018 01:39 AM PDT Thi Dao Tien
Từ nhiều năm nay, nhất là từ thời Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển trở đi, cứ động đến ngành Giáo dục (GD), là từ người dân thường đến trí thức, quan chức, đại biểu Quốc hội, đều buông lời phê phán, công kích, chửi rủa. Hình ảnh các ông bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển, Phạm Vũ Luận,… ra trước Quốc hội thường là rất thảm hại. Dù nhiều cái lỗi không thuộc về các ông, về Bộ GD, nhưng các ông cũng không cãi. Không rõ là vì không biết cãi, hay là biết có cãi mấy cũng không ai nghe, nên các ông thường dùng phương pháp "nhận lỗi". Nhận hết. Sự việc gần đây nhất, khi có người chất vấn vấn đề sinh viên thất nghiệp, ông Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cũng nhận lỗi là do ngành GD đào tạo nhân lực chưa tốt. (Khổ, có tốt đi chăng nữa, nhưng không ô dù, không chạy tiền, thậm chí không đánh đổi thân xác, liệu có được tuyển dụng hay không?) Một lần đi nghe một vị nữ phó giáo sư thuyết trình về chương trình giáo dục nhằm vào phát triển năng lực, tôi hỏi: "Nếu một sinh viên (hay thạc sỹ, tiến sỹ cũng vậy) tốt nghiệp, được hoàn hảo các năng lực như mục tiêu chị vừa trình bày thì số phận của nó có sáng sủa hơn các sinh viên (thạc sỹ, tiến sỹ) hiện giờ không?" Hỏi nhưng tôi trả lời luôn: "Chắc chắn là không". Nó kiếm được một việc làm rẻ mạt có khi còn chật vật, nói chi đến cơ hội thăng tiến. Vì xã hội (XH) ta hiện thời mẫu người trẻ "thành đạt" không phải cần những những năng lực như chị nói (cũng là của thế giới nói chung) Nó cần những năng lực khác (mà chắc ai cũng hiểu). Tuần trước, khi vụ TV1 - CNGD đang rộ lên, chú em họ ở quê có cháu nội năm nay vào lớp 1 gọi điện hỏi tôi rất nhiều thứ. Trong lúc nói chuyện, chú ấy bảo: "Ngành GD thật nhiều chuyện quá". Tôi điên tiết mắng luôn một hồi: "Này, chú thấy có ngành nào không "lắm chuyện" không? Sao cái gì cũng đổ tội cho GD là thế nào? Mà nếu gọi là "lắm chuyện", thì ngành Đảng, ngành Công an, ngành Quân đội là ba ngành đứng đầu, chứ không phải ngành GD đâu nhé". Nhiều người kêu Bộ GD không có người đứng đầu có đủ tâm và tài. Ừ, có lẽ như vậy. Nhưng cứ giả sử là có thì thế nào, chắc cũng không hơn là mấy. Hôm nọ GS. Nguyễn Minh Thuyết trả lời báo Vietnamnet có nói đại ý, chừng nào XH còn nhìn GD với đầy thành kiến như bây giờ thì ngành GD cũng khó làm nổi điều gì. Tại sao có thành kiến ấy? Có nhiều nguyên nhân lắm, nhưng hôm nay tôi chỉ đề cập một nguyên nhân – mà có lẽ là nguyên nhân hàng đầu: nhà nước rót ngân sách quốc gia cho GD không đủ, phần còn lại dân phải gánh quá nhiều, và từ đấy phát sinh đủ chuyện. Giả sử như ngành khác, nhà nước rót đến đâu thì làm đến đấy, đã chết ai đâu, nhưng GD không thể thế. Cũng như ngành y tế, người ta không thể không chữa bệnh, thì trong XH hiện đại, người ta không thể không đi học. Vậy nên bao nhiêu phần không đủ của nhà nước đều dồn cả lên đầu người dân. Phần đóng góp của dân là quá lớn. Quá lón mà hiệu quả thì cũng không thành vấn đề lắm. Thế nhưng đồng tiền xương máu mà người dân trực tiếp bỏ ra để nuôi GD lại không hiệu quả, và nhất là họ không được quyền kiểm soát. Nó rơi vào tham nhũng, thất thoát, vào đâu nữa không ai biết, không ai có quyền được biết. Nói ra thì sợ con em mình bị trù dập. Đó là cội nguồn để người dân ấm ức. Sự ấm ức bị dồn nén, chỉ cần có cơ hội là bộc phát. Họ ném đá vào bất cứ chỗ nào của GD một khi có người khới lên. Và đó cũng là mảnh đất màu mỡ cho những kẻ cơ hội, dốt nát nhưng thừa "năng lực" trí trá, đánh tráo khái niệm, to mồm nhân danh này nọ, mặc sức chửi rủa ngành GD, nhân thể chửi rủa, mạt sát bất cứ ai mà họ cho là đối thủ của mình, để vừa đánh bóng tên tuổi, vừa quảng cáo cho sản phẩm của họ (nếu có). Họ đánh lừa được biết bao nhiêu người nhẹ dạ cả tin, kể cả trí thức, nhất là những người mất niềm tin và đang phẫn nộ nói trên. Những người thầy chân chính trong ngành GD bây giờ phải làm gì? Có lẽ bó tay chăng? Cách đây vài tháng, trong một hội thảo khoa học, tôi gặp một vị giáo sư già, trước dạy ở Đại học Y Hà Nội, ông thốt lên một câu rất là đau đớn: "Hai cái nghề bây giờ chịu chửi rủa nhiều nhất là thầy giáo và thầy thuốc thì trớ trêu thay, tôi dính vào cả hai, anh ạ!". | ||
| Posted: 17 Sep 2018 01:34 AM PDT
Phố Nhà Rượu là tên nôm, tên dân dã, của con phố nhỏ nằm ở mạn Đông Nam Hà Nội xưa. Đi quá con phố ấy đã là làng mạc rồi, đã là nhà tranh vách đất rồi. Không giống các phố khác có nhà cửa hai bên, phố Nhà Rượu một bên là nhà ở san sát, bên kia là bức tường cao bao quanh Nhà Máy Rượu. Được xây dựng từ năm 1898, nhà máy rươu Hà Nội là nhà máy lớn nhất trong 5 nhà máy do công ty La Fontaine của Pháp xây dựng ở Đông Dương. Tên Tây của nó là Sergent Larrivée. Đến thời ta nó được đổi tên là phố Nguyễn Công Trứ. Đường phố ngày nay thường mang tên các vị lãnh tụ đảng, các anh hùng cộng sản đã hy sinh. Ông Nguyễn Công Trứ được nhớ đến, được đặt tên cho con phố này, chắc hẳn vì ngoài tài kinh bang tế thế, ông còn là nhà thơ. Có nhà thơ nào mà không mê rượu cơ chứ, đi kèm với túi thơ bao giờ chả là bầu rượu. Ông Trứ được đặt tên cho phố này là hợp. Cái tên Larrivée gợi tò mò. Tôi cũng có ý tìm xem viên đội này là ai mà tìm không ra. Chắc anh chàng Larrivée chết trận ở đâu đó trong cuộc chinh phục Đông Dương của Pháp, nhưng không phải ở địa điểm này. Trong lịch sử Đông Dương thuộc Pháp không có tên Larrivée. Chỉ có viên đại tá hải quân Henri Rivière bị quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc giết ở Cầu Giấy là được đặt tên ở đúng chỗ anh ta ngã xuống. Phố Nhà Rượu còn có một tên khác là Rue du Cimetière (Phố Nghĩa Địa). Tên này có trước tên Sergent Larrivée vì ở đầu phố có cái nghĩa trang rất lớn dành cho người Pháp ở Bắc Kỳ, gọi nôm na là Nghĩa Địa Tây. Người Việt dù có làng Tây[1] cũng không chôn ở đây. Người trông nom nghĩa trang là một ông Tây già phục phịch, đi lại khó khăn, thỉnh thoảng lắm mới xách ba-toong la cà ngoài phố. Không ai biết tên ông, bèn gọi phắt là Ông Tây Nghĩa Địa. Ông Tây Nghĩa Địa có vợ Việt. Vợ ông lại là em ruột bà ngoại tôi. Người trong họ gọi vợ Ông Tây Nghĩa Địa theo tên con gái là bà Nê. Bà Nê giống hệt bà ngoại tôi, thanh mảnh hơn, cao hơn bà ngoại một chút. Cả hai bà đều đẹp phúc hậu. Bà ngoại có mùi dầu cù là, bà Nê có mùi nước hoa. Tôi yêu cả hai bà. Hai bà cũng yêu tôi. Khi nào thật yêu tôi, bà ngoại ôm tôi chặt rồi hít mùi tóc tôi. Bà Nê hôn tôi lên trán. Bà ngoại tôi có hai con – bác Ngọc và mẹ tôi. Bà Nê cũng có hai con - cô Nê (René) và cậu Giăng (Jean). Hai người con lai của bà Nê chẳng có tí nét Việt Nam nào, Tây đặc, hoàn toàn không biết tiếng Việt. Tây lai ở Hà Nội có nhiều, nhưng chúng đều ra vẻ Tây thật, không thích dính dáng với người Việt. Cô Nê và cậu Giăng khác. Cả hai đều rất quý họ hàng đàng mẹ. Hai cô cậu năng đến chơi nhà tôi. Họ đến, ào vào nhà, hôn qua quýt tôi một cái rồi ríu rít trò chuyện với cha mẹ tôi. Sau những năm 1945-1946 tôi không gặp lại cô Nê và cậu Giăng nữa. Nghe đồn cậu Jean đăng lính rồi chết trong một cuộc đụng độ Pháp-Nhật ở Lạng Sơn. Cũng nghe đồn thì cô Nê rồi sau lấy được người chồng giàu, chủ ngân hàng gì đó, cô mua cho mẹ một thửa đất rộng ở Ấn Độ, dựng chùa để bà tôi tu. Bà Nê và hai người con mất tích từ đó. Người trong họ kể: khi còn con gái bà Nê có tình ý với một chàng trai trong làng. Gia đình chàng trai kiên quyết ngăn cấm mối tình ấy vì cụ ngoại tôi bị tình nghi tham gia phong trào Văn Thân chống chính phủ bảo hộ, từng bị lính bắt giải về làng. Bà Nê giận đời bỏ ra Hà Nội, làm nghề khâu đầm (couturière), một nghề thịnh hành thời ấy. Nghề này phát đạt đến nỗi có hẳn một phố tên là Rue des Brodeurs (phố Thợ Thêu). Sau, không biết mối lái ra sao, bà gá nghĩa với ông Tây nọ. Bà ngoại tôi rõ ràng không ưa việc bà Nê lấy Tây. Chẳng cứ bà, thời ấy người ta coi sự lấy Tây là nhục nhã, những người đàn bà lấy Tây bị gọi là "me Tây". Người Pháp lấy vợ Việt cũng bị coi là loại Tây hèn kém, Tây giẻ rách, Tây mắm tôm, không đủ giàu có và tài cán để có vợ cùng xứ mới đâm đầu lấy vợ Việt. Tây ở đây là theo cách hiểu của người Việt, cứ da trắng, mũi lõ là Tây tất. Có một ông Tây người Tiệp ở phố Jacquin ngay đầu đường phố Nhà Rượu làm nghề lên dây đàn dương cầm lấy vợ Việt, tôi thường chọc ghẹo mấy đứa con lai của ông đến phát khóc. Lâu lâu bà ngoại tôi lại dẫn tôi tới thăm bà Nê. Thái độ không nồng ấm của bà ngoại tôi với em ruột là điều trong họ ai cũng biết. Nhưng tình chị em còn đấy, bà không thể không thỉnh thoảng ngó em mình một cái. Trong khi hai bà trò chuyện thì tôi bỏ ra ngoài, lang thang một mình giữa các hàng mộ chí trong nghĩa trang vắng lặng. Nhìn trước nhìn sau không thấy ai, tôi tháo vội vài cánh hoa cườm bỏ túi. Những cánh hoa kết bằng hạt cườm nhỏ xíu đủ mọi màu được luồn bằng dây thép mảnh nhưng dai lắm, ngắt được chúng khỏi vòng hoa rất khó. Như thế là ăn cắp. Cha mẹ tôi mà biết thì tôi không tránh khỏi mấy roi vào đít. Ông rể Tây của tôi tính vốn lành, lại lười nữa. Ông chẳng thèm để ý chuyện mất cắp hạt cườm. Vòng hoa cườm thay cho hoa tươi trong nghĩa trang nhiều vô số, hầu như không mộ nào không có. Có vẻ ông cũng chẳng buồn coi sóc những nấm mồ lạnh lẽo nọ. Người Pháp chết ở đây, chôn ở đây, con cháu về nước rồi hiếm khi trở lại viếng mộ. Công việc quét dọn lối đi, cắt tỉa dây leo quanh hàng rào, lau rửa các bia mộ… đều do phu người Việt làm. Cấp trên của ông, tức Toà Thị Chính, không phiền trách ông có nghĩa là mọi việc ổn thỏa, ông cứ việc ăn no ngủ kỹ. Thỉnh thoảng ông mới lững thững dạo vài vòng, quát nạt mấy người phu đôi câu lấy lệ. Những người phu ngừng tay, vờ chăm chú nghe ông quát bằng thứ tiếng mà họ không hiểu, nhưng đủ khôn để đoán ý ông muốn họ làm gì. Những hạt cườm trong suốt và sặc sỡ là món quà quý cho các bạn gái cùng phố. Các cô bé rất thích chúng. Kết chúng lại bằng chỉ luồn qua lỗ, họ đã có một cái vòng đeo tay, vòng cổ. Họ không thể vào Nghĩa Địa Tây để kiếm hạt cườm. Muốn vào phải qua cái cổng bao giờ cũng khoá trái. Nhưng tôi không thích các bạn gái. Chơi với họ một lúc là chán. Ngoài rải gianh, nhảy lò cò, chơi chuyền… là hết trò. Tôi có nhiều bạn trai hơn. Chúng tôi nhặt những nút bia, kéo nhau ra tận phố Huế để đặt chúng lên đường ray chờ cho tàu điện chẹt chúng bẹp dí thành những đồng xèng, một thứ tiền của trẻ con trong trò đánh đáo. Chúng tôi còn dùng xèng để mua bán bi đá, bi ve. Chơi bi có nhiều kiểu, cũng là một trong những cái thú bất tận của trẻ con thời ấy. Trên bức tường cao đối diện với nhà tôi cứ cách một quãng lại có một lỗ thải bã rượu ra cho những cái xe bò có phên nứa quây kín bốn cạnh chực sẵn. Những con bò buồn ngủ đứng đờ đẫn giữa hai cái càng, uể oải quất đuôi xua ruồi nhặng. Từ những kẽ phên nứa ri rỉ chảy ra nước bã rượu màu nâu. Suốt ngày không khí cả phố sực mùi chua nồng. Nhà Máy Rượu có đủ thứ còi – còi vào ca, còi giữa trưa, còi tan tầm. Mỗi lần nó rúc lên là điếc cả tai. Khi tan tầm, cổng nhà máy mở toang, ùn ùn nhả ra những người phu mệt mỏi, phờ phạc. Đêm đến, nghe rõ tiếng tru thảm thiết từ phía Nhà Thương Chó. Nhà thương này nằm ở phố Lò Đúc, cuối phố Nhà Rượu, bên kia đường. Tôi hay đi qua đấy, nhưng chẳng nhìn thấy lũ chó bị bệnh. Chắc người ta nhốt chúng trong những ngôi nhà nhỏ bên trong, giữa những hàng cây sum suê. Tôi không nhớ cuộc chuyển nhà diễn ra năm nào. Cái sự chuyển nhà của dân ở thuê phụ thuộc tình hình kinh tế gia đình. Khi làm ăn khấm khá hơn thì người ta dọn đến chỗ ở tốt hơn, trong một phố sang hơn. Khi rời khỏi căn nhà chật hẹp ở phố Nhà Chung để dọn đến đây, gia đình tôi ắt phải khá hơn trước. Mẹ tôi làm công cho một cửa hàng tơ lụa của người Ấn Độ nằm giữa phố Paul Bert (phố Tràng Tiền), lớn nhất thành phố. Tôi thường được mẹ cho đi theo đến cửa hàng Palais de Soie (Cung Tơ Lụa), nơi mẹ làm. Ông chủ tên Kevarah, người Ấn Độ, mặt không khác người Pháp là mấy, da không đen lắm, thấy tôi đi theo mẹ bao giờ ông cũng tươi cười xoa đầu tôi, cho tôi ăn kẹo nu-ga. Tôi rất thích được theo mẹ đến đây vì tôi thích kẹo nu-ga có sữa trộn lạc, mềm và ngon vô cùng. Ông chủ Palais de Soie chắc cũng nghiện thứ kẹo này như tôi. Lần nào ông cũng thò tay vào túi lấy ra đúng một thứ kẹo ấy. Cùng làm với mẹ tôi còn có cô Tỳ và cô Mỳ mà mẹ tôi coi như hai cô em. Cô Tỳ cao hơn cô Mỳ, mặt trái xoan, dáng thanh mảnh, nghiêm trang. Cô Mỳ thấp, mặt bầu bĩnh, nhưng tươi cười, yêu tôi hơn cô Tỳ. Giờ nghỉ trưa, cô dắt tôi đi dạo phố, mua kem que cho tôi mút. Cha tôi bảo hai cô là hai chị em Thúy Kiều, Thúy Vân. Tôi không biết Thuý Kiều, Thuý Vân là ai, tôi chắc họ phải là hai cô gái rất đẹp. Người khuân vác những xúc vải nặng, người quét dọn cửa hàng đều là người ta hoặc người Ấn. Người Pháp không thèm làm công việc ấy, kể cả người Pháp nghèo. Người của nhà nước bảo hộ giữ giá, không làm những công việc có thể thuê người bản xứ. Cô Tỳ và cô Mỳ bán hàng, mẹ tôi đứng két và làm việc kế toán, cả ba đều biết tiếng Pháp đủ để giao thiệp với khách hàng tây đầm. Khách tây đầm mua vải mua lụa ở đây rồi giao cho các hàng thợ may người Việt. Cả Hà Nội không có hàng thợ may nào của người Pháp. Mẹ tôi nói ông Kevarah là người tốt, dân Pondicherry, một tỉnh Ấn Độ thuộc Pháp. Bà nói có nhiều người từ tỉnh này sang ta làm ăn. Năm 1954 trở về Hà Nội mẹ tôi mới biết hai cô Tỳ, Mỳ đã di cư vào Nam. Cũng từ đó không bao giờ tôi còn gặp lại hai cô nữa. Hà Nội khác trước, vắng vẻ hẳn. Mẹ tôi buồn, bảo có dễ đến nửa Hà Nội đã bỏ đi. Đến nhà những người quen cũ bà đều thấy cửa đóng im ỉm. Không ai nói cho mẹ tôi biết về số phận người hai bạn thân thiết cùng sở làm. Ông Kevarah cũng đi, ông bỏ đi Sài Gòn mở cửa hàng khác hay trở về Ấn Độ, không ai biết. Người ta bỏ đi vì sợ cộng sản. Mẹ tôi buồn không được gặp lại ông chủ. Bà kể ông Kevarah biết nhưng vờ như không biết vụ cha tôi vì hoạt động chính trị mà bị bỏ tù. Mỗi khi mẹ tôi xin nghỉ vài ngày thì không cần mẹ tôi nói lý do, ông bảo: "Công việc không gấp, bà để đấy làm sau cũng được". Mẹ tôi đoán ông cũng là dân thuộc địa[2], nên ông thông cảm và ngấm ngầm ủng hộ cách mạng Việt Nam. Thế nhưng khi quân cách mạng về tiếp quản thành phố thì ông chạy. Tôi không biết cha tôi làm ở đâu. Sáng sáng, sau bữa điểm tâm ông đứng trước gương, chải đầu, xức nước hoa, châm một điếu thuốc lá Camel, rồi ra khỏi nhà. Trong tuổi thơ của tôi, ngôi nhà số 27 Bis Phố Nhà Rượu được ghi lại đậm nét trong trí nhớ. Nó lớn hơn, sáng sủa hơn hẳn căn nhà hẹp ở phố Nhà Chung, với một khoảnh vườn tí xíu có mấy khóm hoa mào gà ở trước cửa, có phòng khách kiêm phòng ăn, và hai phòng ngủ. Đàng sau nhà là bãi đất hoang bát ngát đầy cỏ may và những bụi cây um tùm. Những bụi cây không tên như thế mọc lung tung ở những nơi con người không màng đến. Chỉ những nhà thực vật học mới biết tên những cái cây lăng nhăng ấy, tôi hỏi thì họ cũng chỉ gọi ra được cây này cây kia thuộc họ gì mà thôi. Đi theo đường mòn qua bãi hoang thể nào cũng bị hoa cỏ may bám đầy quần, nhặt không xuể. Hai bên đường có rất nhiều bụi cà dại trĩu chịt quả vàng quả đỏ rất đẹp, nhưng không ai hái. Người lớn nói chúng không ăn được. Đi hết khoảng đất rất rộng sẽ tới con đường dẫn tới đền Hai Bà, nơi có hai con rùa đá ở đàng trước. Tôi hay lang thang ra đấy để leo lên cổ con rùa nằm dưới gốc đa cổ thụ. Trước đền có một cái ao nước trong, có thể nhìn thấy những con cá đuôi cờ quanh quẩn bên những bụi súng. Hoa súng trắng chỉ thoang thoảng hương khi mới hái, hái xong là chúng chẳng còn mùi gì nữa. Thời gian ở phố Nhà Rượu là thời gian sung sướng nhất trong tuổi thơ của tôi. Cha tôi tha về hằng ngày đủ thứ: nho, táo, lê… , cả bơ, phô mai. Chúng tôi chưa bao giờ được ăn những của lạ này. Ông làm công cho hãng Michaud, một hãng chuyên nhập cảng thực phẩm Pháp. Khi Pháp rút khỏi Việt Nam, cửa hàng Michaud ở phố Tông Đản trở thành cửa hàng cung cấp đặc biệt cho các quan chức cấp cao (mới có câu: "Tông Đản là chợ vua quan, Nhà Thờ là chợ trung gian nịnh thần"). Cả khi ấy, cả sau này tôi cũng không biết cha tôi hồi ấy làm công việc gì, kế toán hay người bán hàng. Cha tôi là người kiệm lời, tính ông thế. Mẹ tôi bao giờ cũng là người dậy sớm nhất nhà. Tôi nằm ườn trên giường nghe tiếng mẹ lục cục xoong nồi trong bếp, tiếng người Ấn Độ giao sữa bấm chuông. Đó là một ông già đen nhẻm, gày đét và cao nhỏng, đầu chít khăn quấn thừng màu lục, sáng sáng đưa sữa đựng trongmột cái ấm sắt tây to bằng cái bình tưới cây, từ tốn và thận trọng rót dòng sữa trắng phau vào xoong cho mẹ tôi hứng. Ông già Ấn Độ có một đàn bò đông đúc. Ông là chủ đàn bò hay chỉ là người chăn đắt, tôi không rõ. Cùng chăn bò với ông còn có một người trẻ hơn ông, thấp hơn ông, cũng quấn khăn màu lục, cũng quần cháo lòng ống thấp ống cao, y hệt ông. Họ lặng lẽ vung roi quật veo véo vào mông những con bò chậm chân. Đàn bò của hai người Ấn Độ có dễ tới bốn chục con. Chúng không phải một loại, mà to nhỏ đủ màu: đen, vàng, vá. Chúng đi rầm rập trên phố, mùi hôi sực nức phả vào mọi nhà, xe ô tô phải dừng lại nhường đường cho chúng. Chỗ ở của đàn bò là một bãi rộng ở đầu làng Thọ Lão cuối phố Lò Đúc. Tôi đã đi qua những chuồng bò ở đấy. Lũ bò sữa chen chúc nhau trong những cái chuồng có mái nứa che sơ sài, rằng chật hẹp, nhìn thông thống qua những thân cây nhỏ gá vào bốn cột. Không hiểu người ta vắt sữa thế nào từ những con bò bẩn thỉu ấy. Phố Nhà Rượu không phải phố nhà giàu. Những ngôi nhà với cửa ra vào phơi ra mặt đường, bậc tam cấp thấp tè, đặc trưng cho phố người nghèo, người trung lưu bậc thấp, hoặc công chức hay tư chức hạng xoàng. Ở các phố nhà giàu nhà nào cũng có mảnh vườn nhỏ xíu trước cửa, có hàng rào sắt, có cửa sắt mở ra đường, trên đó dây tầm xuân, hoa phong lữ, hoa ti gôn nở tưng bừng. Tôi được cắp sách đến trường lần đầu. Trường của tôi ở xa nhà. Tôi phải đi hết phố Jaquin, qua phố Harmand Rousseau có nhà bác cả tôi mới tới ngôi trường có sân rộng thênh thang ở phố Hàm Long. Nó tên là trường Triton, không biết có phải là Trí Tôn hay Tri Tôn tiếng ta được đặt thành tiếng Tây hay không tôi không rõ. Tôi nhớ tiếng trống trường, nhớ ông loong-toong (planton) đã chùi nước mắt cho tôi rồi dẫn tôi vào tận lớp để giao cho một ông giáo mặc áo dài trắng, mặt bì bì, như lúc nào cũng bực mình với lũ học trò hiếu động. Tôi nhớ bài học tiếng Pháp đầu tiên có câu "Nos ancêtres sont les Gaulois" (Tổ tiên của ta là người Gô-loa) tôi nhai nhải đọc và bị cha tôi cho một cái cốc đau điếng vào đầu, còn mẹ tôi thì xoa chỗ đau cho tôi: "Có phải lỗi của nó đâu". Tôi nhớ người bạn thân nhất của mình tên Chu Ngọc Huy, người đã dùng nắm đấm bé nhỏ lăn xả vào bảo vệ tôi khi tôi bị các bạn lớn hơn bắt nạt.Về sau tôi đã cố tìm lại bạn, nhưng không sao tìm lại được. Viết lại kỷ niệm này tôi vẫn hy vọng biết đâu rồi đây có người tình cờ đọc sẽ cho tôi biết bạn Huy của tôi còn sống không và nay ở đâu. Cũng ở phố Nhà Rượu tôi được biết nhiều nhà cách mạng nổi tiếng sau này: Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt (Hạ Bá Cang), Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Duy Trinh, Bùi Lâm… Họ thường đến họp ở nhà tôi. Tôi. Chẳng ai để ý đến tôi nằm trên cái phản nhỏ ở phòng khách. Tôi nhớ nhất dáng đứng của ông Hoàng Quốc Việt. Người thấp, ông tựa lưng vào lò sưởi, tay xoay xoay cái mũ phớt, lẳng lặng nghe các bạn nói, rồi sau hết mới cao giọng phản bác. Ông Nguyễn Lương Bằng thì ngồi im trên ghế, suốt cuộc họp không nói câu nào. Ông Bùi Lâm không nói thì thôi, đã nói thì hùng hồn, pha rất nhiều tiếng Pháp. Bà ngoại tôi gặp họ vài lần, nhận xét: "Không hiểu sao bố mẹ cháu lại chơi với hai cái anh này (Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt). Tướng xấu lắm. Không phải người tốt". Hoá ra bà tôi đúng. Hai người này khi đã leo lên những địa vị cao không bao giờ còn lai vãng nhà tôi nữa. Cha mẹ tôi không giận họ. Hai ông bà có cái nhìn rạch ròi trong quan hệ - đồng chí và bạn. Cùng đi với ông bà trên đường cách mạng, họ là đồng chí, nhưng không hiển nhiên là bạn. Vì thế mà ông Nguyễn Văn Tiến, biệt hiệu Tiến Cố, một thời là đảng viên đảng cộng sản Pháp, rồi chuyển sang đảng viên đảng cộng sản Việt Nam, rồi bị chính quyền cộng sản bỏ tù vì bỏ đảng theo Thiên Chúa giáo, vì có quan hệ mật thiết với các chủ chăn mà chính quyền nghi ngờ nhưng không bỏ tù được, mãi mãi là bạn của gia đình tôi. Về những người như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt có nhiều chuyện để kể nếu viết riêng từng người, trong trường hợp có thời giờ. Thời giờ thì sẵn, nhưng hứng thú thì không. Hàng xóm nhà tôi là một nhà Pháp đặc, cả vợ cả chồng. Gia đình Pháp này là duy nhất trong cả phố. Sáng sáng họ đi bộ tới sở, hoạ hoằn mới gọi xe tay. Xem ra họ cũng nghèo, gia cảnh chẳng hơn người bản xứ cùng phố. Ra cửa mà gặp cha tôi hay mẹ tôi là hai vợ chồng nọ liền túm lấy trò chuyện ríu rít. Họ vui sướng ra mặt khi có hàng xóm biết tiếng Pháp. Người Pháp nghèo thường là người đảo Coorse, ta gọi là Tây Cọoc. Tây Cọoc làm công việc chân tay trong các xưởng máy, cửa hàng của người Pháp gốc, hoặc làm lao công trong các công sở, may mắn lắm thì được làm cảnh sát hoặc cai tù. Nghèo thì nghèo, Tây Cọoc vênh váo còn hơn Tây thật, không bao giờ làm thuê cho người Việt. Hai vợ chồng nhà này là người vùng Bretagne, không biết làm nghề gì, lại nghèo, cũng là sự lạ, cha mẹ tôi nhận xét. Jeanette - đứa con gái nhà Tây rất xinh. Nó có mái tóc vàng rơm, mắt như hai hòn bi ve, hiếu động, nghịch như quỷ sứ. Vợ chồng người Pháp không cấm con gái chơi với tôi. Vào thời gian ấy tôi chẳng có đứa nào cùng tuổi ở gần nhà để làm bạn. Tuy nó Tây, tôi ta, nhưng hai đứa rất hiểu nhau nói gì. Tôi có chút tiếng Tây mẹ dạy, Jeanette có chút tiếng ta tôi dạy, thế là đủ cho sự giao tiếp giữa hai đứa. Chúng tôi hết chơi rải gianh thì ô ăn quan, chán nhảy lò cò thì oẳn tù tì ra cái gì ra cái này. Mấy trò này chẳng cần ai dạy, thế mà đứa trẻ nào cũng biết. Jeanette có một con ngựa gỗ sặc sỡ, khi nào yêu tôi lắm nó mới cho tôi cưỡi một lúc. Tôi nắm chặt hai cái tai gỗ của con ngựa bắt nó đung đưa thật lực, cho đến khi bổ nhào. Nó đứng bên xem tôi phi, vỗ tay đôm đốp, thấy tôi ngã thì ré lên cười ngặt nghẽo. Tình bạn của tôi và Janette kéo dài không lâu. Hai năm sau, gia đình Pháp dọn đi. Khi đồ đạc đã chất lên hai cái xe bò kéo và hai vợ chồng Tây đã yên vị trên hai xe tay thì Jeanette đã ngồi bên mẹ bỗng nhảy bổ xuống, tất tả chạy lại ôm lấy tôi, ôm chặt, nước mắt đầm đìa. Rồi nó bất thình lình nó khóc to, nó gào. Tiếng khóc Tây của nó không khác gì tiếng khóc ta. Tôi cũng ôm Jeanette không rời, cũng nấc lên, nước mắt ròng ròng. Nhưng tôi không dám khóc thành tiếng vì sợ mẹ tôi thấy. Mẹ tôi rất nghiêm khắc, bà cấm tôi không được khóc bất kể vì cớ gì. Nghe bố mẹ ồi ồi giục lên xe, Jeanette vội vã hôn tôi tới tấp lên mặt tôi, rồi môi tôi. Miệng nó mềm và thơm, pha vị mặn của nước mắt. Đó là cái hôn đầu đời mà tình bạn cho tôi. Không bao giờ tôi còn gặp lại Jeanette nữa. Cũng chẳng bao giờ tôi quên được cô bạn gái bé nhỏ của mình. [1] Làng Tây là cách gọi người Việt có quốc tịch Pháp. [2] Khi người Anh hoàn toàn chiếm được Ấn Độ vào cuối những năm 1850, các vùng Pondicherry, Mahe, Yanam, Karaikal và Chandernagor vẫn là một phần Ấn Độ thuộc Pháp. | ||
| Posted: 17 Sep 2018 01:24 AM PDT Trương Minh Ẩn 7-9-2018 Buổi sáng ngồi ở một quán cà phê, khi mải mê với tin tức thì nghe bàn kề bên có người nói trong niềm hả hê, nên phải dừng lại nghe ngóng. Và đây là đoạn đối thoại của mấy người trong bàn: – Được, được lắm. Phải vậy chứ, đâu có thể để những kẻ ngạo mạn này làm càn hoài, muốn làm gì cũng được! – Vụ gì vậy, tay giang hồ côn đồ các đảng nào bị dạy cho một bài học à? – Ừ đúng, bị dạy cho một bài học. Những kẻ này thuộc một đoàn ngoại giao Trung Quốc, mới chỉ là như thế chứ chẳng là cái thá gì, mà đã tác oai tác oái, hành xử chẳng khác gì giang hồ lưu manh, đi tới đâu là giở thói côn đồ tới đó. – Ui! Quá hay, quá đã! Mà ai ngon quá vậy, lãnh đạo nào của nước mình mà ngon quá vậy? Hai tay hai chân tôi ủng hộ ổng, làm tới đi, ngán chi hè. Phải có ông lãnh đạo như vậy chứ. – Nước ta cái gì mà nước ta. Ở tận tuốt luốt xứ Nam Thái Bình Dương ông ơi! Lãnh đạo xứ mình nhát còn hơn thỏ đế. Nghe thoáng lời phán của "thiên triều" là muốn tè trong quần, rụt cổ làm theo, tới cái tên cũng không dám gọi chính danh, phải gọi lái đi là nước "lạ" chứ ở đó mà dạy. Những người xung quanh bày tỏ thái độ hụt hẫng ghê gớm. Tôi cũng vậy, dù đã từ lâu tôi đâu còn tin có một ông lãnh đạo cấp cao nào ở Việt Nam dám ngẩng cao đầu trước kẻ 'có chung đường biên giới' với nước ta, nhưng luôn âm mưu muốn xóa bỏ để thôn tính. Tôi tìm tin tức về vụ này, thì được biết, chuyện xảy ra ở nước Cộng hòa Nauru, một đảo quốc ở Micronesia, thuộc Nam Thái Bình Dương, nơi diễn ra hội nghị thượng đỉnh thường niên "Diễn đàn các Đảo Thái Bình Dương". Ngày 4/9, trưởng đoàn Trung Quốc Du Qiwen đòi phát biểu trước các quan chức khác, nhưng Tổng thống Waqa của Nauru từ chối. Ông Waqa yêu cầu đại diện Trung Quốc phải theo lịch trình, trình bày khi giới lãnh đạo các đảo quốc tại Thái Bình Dương chấm dứt phần phát biểu của mình. Đoàn ngoại giao lưu manh Trung Quốc tỏ thái độ tức tối, ngay tức thì đồng loạt đứng dậy và ngang nhiên rời khỏi nghị trường. Trưởng đoàn Du Qiwen còn tỏ thái độ chẳng tôn trọng một ai, ông ta đảo một vòng qua các bàn để trêu ngươi trước khi rời đi. Báo Thanh Niên dẫn nguồn từ hãng AFP, cho biết, Tổng thống Waqa không hề e ngại, mà nói như tát nước vào mặt đoàn Trung Quốc: – "Không có ai được phép đến đây và ra lệnh thế này thế nọ cho chúng tôi". – "Liệu ông ta có hành động như thế trước chủ tịch của mình?" – "Họ không phải là bạn bè của chúng ta. Họ chỉ cần chúng ta vì mục đích riêng". – "Ông ta không tôn trọng các Đảo quốc Thái Bình Dương, những nhà lãnh đạo có mặt tại diễn đàn và các bộ trưởng tham gia hội nghị ở nước chúng tôi. Có đùa không? Hãy nhìn ông ta xem, ông ta chẳng là ai cả. Thậm chí còn không phải là bộ trưởng, mà lại đòi được công nhận và phát biểu trước thủ tướng Tuvalu". – "Chúng tôi không chỉ đòi được xin lỗi, mà chúng tôi còn mang việc này ra Liên Hiệp Quốc. Không những thế, tôi sẽ đề cập vụ việc tại mỗi hội nghị quốc tế".Tổng thống Baron Waqa của đảo quốc Nauru, vừa dạy cho các quan chức TQ một bài học. Nguồn: REUTERS/ Lucas Jackson Trước giờ tôi chưa từng biết một chút gì về nước Cộng hòa Nauru. Nhờ sự kiện này hôm nay tôi mới biết, Nauru là đảo quốc chỉ vỏn vẹn có 21 km vuông, dân số khoảng 11.000 người, chưa bằng một xã đông nhất ở Việt Nam, nhưng họ có đủ dũng khí để dạy cho các quan chức của một nước lớn, luôn hãnh diện là cường quốc, nhưng lại có văn hóa lùn như Trung Quốc. Rồi cũng qua sự kiện này, nghĩ về vị thế của nước ta, nơi có dân số gần 100 triệu người, xếp hàng thứ 14 trên thế giới, dù lớn hơn cả ngàn lần so với Nauru, nhưng chưa bao giờ lãnh đạo CSVN dám phản ứng với Trung Quốc như tổng thống Waqa của đảo quốc nhỏ bé Nauru đã dạy cho các quan chức Trung Quốc một bài học. Lãnh đạo Việt Nam nhiều lần bị Trung Quốc làm nhục, nhưng họ liên tục chịu nhục hết lần này tới lần khác. Qua đó có thể thấy, sở dĩ Việt Nam phải liên tục chịu nhục với Trung Quốc, không phải vì dân số hay đất đai Việt Nam ít hơn, mà vì lãnh đạo CSVN luôn cúi đầu trước Trung Quốc. Trung Quốc cao hơn, không phải vì chúng ta lùn, mà vì lãnh đạo nước ta lúc nào cũng muốn khom lưng, cúi đầu. | ||
| Trưởng Thành từ lũy tre Dương Nội Posted: 17 Sep 2018 01:13 AM PDT Nguyệt Quỳnh trò chuyện cùng Trịnh Bá Phương Nguyệt Quỳnh: Để đáp lại lời kêu gọi " Hãy lên đường các bạn ơi!" từ tác giả Vũ Thạch và một nhóm nhân sĩ đã gợi ý trong bài "Đã Đến Lúcgiới hoạt động TỎA VÀO LÒNG DÂN". NQ liên lạc với anh Trịnh Bá Phương, người bán cua nổi tiếng của làng Dương Nội. Mời bạn đọc cùng tìm hiểu về làng quê có rất nhiều người đi tù vì kiên cường giữ đất. Trang facebook "Chuyện của Thịnh" (1) có một bộ ảnh về dân làng Dương Nội và những ngôi biệt thự bỏ hoang mà tác giả dẫn dắt bằng câu: "Ừ, họ vẫn ở đây". Trước kia, nơi đây là những mảnh vườn xanh tốt, là mái nhà, là của cải của những hộ dân. Tất cả đã đổi thay, đã là dấu chấm hết với họ vào một buổi sớm mai cùng với lệnh cưỡng chế đất, tiếng máy xúc, lựu đạn cay, và tiếng gào khóc trong tuyệt vọng của nông dân Dương Nội. "Chúng Tôi Vẫn Ở Đây" là bộ ảnh chụp một nhóm người trong số 200 hộ dân đã từ chối nhận tiền thu hồi đất để tiếp tục bám trụ trên mảnh đất của mình. Nhìn hình ảnh một gia đình người nông dân Dương Nội nằm ngủ say sưa giữa bức tường của hai ngôi biệt thự bỏ hoang, trên lá cỏ, giữa đất trời mà như đang nằm chính trong ngôi nhà của mình; tôi hiểu vì sao suốt một thập kỷ đăng đẵng giữa bạo lực và trấn áp, Dương Nội vẫn mãi mãi là mái nhà của họ. Những nhóm lợi ích như đám ruồi xanh kia rồi sẽ biến mất khi đất không còn cho mật; nhưng đất quê hương, máu thịt bao đời của cha ông mình sẽ mãi mãi vẫn là đất quê hương! Xin cùng bạn chia sẻ một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là "Áo vải chân không đi lùng giặc đánh". *** Luôn luôn tuân thủ luật pháp, nhưng hiểu rất rõ về quyền hạn của mình. * Ý nguyện của bà con là gì? Tại sao không làm riêng từng gia đình mà đấu tranh chung cả làng với nhau? Mục đích ý nguyện của nhóm dân oan chúng tôi là đấu tranh đòi lại tư liệu sản xuất là đất đai của chúng tôi. Nguyên nhân chính là khi không còn đất đai thì chúng tôi rơi vào cảnh thất nghiệp và nghèo đói. Từ đó con cái chúng tôi không được cắp sách đến trường, lâm bệnh ốm đau không có tiền đi viện… Theo quy định cụ thể của nhà nước trong "Nghị định số 75/2012/NĐ-CP" (2) ngày 03 tháng 10 năm 2012, chúng tôi khiếu kiện tập thể thông qua hình thức cử 20 người đại diện là hoàn toàn đúng luật khiếu nại tố cáo. Việc khiếu nại chung đã giúp chúng tôi có sức mạnh tập thể, các phe nhóm lợi ích khó khăn hơn trong việc trấn áp số đông chúng tôi. Tuy nhiên thời gian qua chính quyền đã dùng rất nhiều thủ đoạn hòng tách chúng tôi làm đơn riêng từng hộ để dễ bề đàn áp, dập tắt phong trào. Không ít lần chính quyền Hà Nội đã thuyết phục gia đình tôi làm đơn riêng để dễ giải quyết, nhưng quan điểm của gia đình tôi không phản bội lại bà con và kiên quyết sát cánh với bà con đấu tranh đến cùng. Mỗi người dân chia sẻ trách nhiệm của mình. * Có sợ bị dán nhãn lập tổ chức phản động chống nhà nước không? Chúng tôi thực hiện theo luật pháp nên chính quyền không dễ quy chụp cả nhóm chúng tôi là tổ chức. Tuy nhiên truyền thông nhà nước và đám gọi là 'Dư luận viên' vẫn thường quy chụp là nhóm chúng tôi bị các thế lực phản động xúi dục, kích động và chúng quy chụp cho tôi và mẹ tôi Cấn Thị Thêu là tham gia tổ chức phản động, hòng chia rẽ gây hoang mang trong nhóm. Trong khi các thành viên trong gia đình tôi đến thời điểm hiện tại không thuộc một tổ chức, hay đảng phái chính trị nào. Chúng tôi tổ chức nhiều cuộc họp hàng tuần để bà con cảnh giác các âm mưu chia rẽ; từ đó, đã khiến nhà cầm quyền Hà Nội đi từ thất bại này đến thất bại khác. Nhóm chúng tôi bầu ra mẹ tôi là người đại diện soạn thảo đơn thư, tổng hợp ý kiến nhân dân. Tôi cùng 18 người nữa là đại diện cho nhóm, ngoài ra mỗi tổ dân phố có 1 tổ trưởng chịu trách nhiệm nắm bắt tình hình, nếu có an ninh xâm nhập, đánh phá, gây chia rẽ thì đến nay chúng tôi đã lật tẩy toàn bộ âm mưu của họ. Hiện chúng tôi đang là một khối đoàn kết, không một ai có thể đánh phá, triệt hạ tinh thần đấu tranh của chúng tôi. Sông Côn khi cạn khi đầy, khí thiêng đất nước nơi này vẫn thiêng! * Nhờ yếu tố nào hay sinh hoạt nào mà bà con sống chết với nhau như vậy? Từ khi đấu tranh chúng tôi đã lên đình làng thắp hương, làm lễ ăn thề. "... Có phúc cùng hưởng có họa cùng chịu. Cùng bắt chặt tay nhau tranh đấu giữ lại tư liệu sản xuất. Nếu ai phản bội lại nhân dân sẽ phải chịu những thảm họa, dù có chết thì muôn đời con cháu không rửa được tội..." Lời thề được viết thành sớ. Photo mỗi người giữ một bản. Thực tế đã có vài cá nhân phản bội lại nhóm chúng tôi và đã gặp những bi kịch, người bị tai nạn, người bò húc tấn công dẫn đến bị liệt, người đang buôn bán bỗng dưng bị cấm khẩu… Về sự chia sẻ đến từ cộng đồng, với sự ủng hộ trên 150 tấn gạo chúng tôi minh bạch sổ sách và phân phát đều cho bà con. Cá nhân tôi khi bố mẹ tôi trong tù mọi người đã chia sẻ cho gia đình tôi khoảng 15,000 Úc kim tương đương 300 triệu đồng, toàn bộ số tiền này tôi đã mua gạo phát cho bà con. Tuy nhiên vì việc này mà loa phường Dương Nội liên lục phát thanh là tôi phát gạo để lấy uy tín với bà con, để kích động bà con... Chúng tôi cùng là nạn nhân nên đồng cảm yêu thương nhau như người một nhà. Chúng tôi nhận thức rõ chỉ có sự đoàn kết mới có thể đương đầu với tổ chức Mafia đội lốt chính quyền, chính quyền càng đàn áp, bắt giam chỉ càng khiến bộ mặt thối nát của họ phơi bày, bạo lực và nhà tù không thể dập tắt tinh thần đấu tranh của chúng tôi mà điều đó chỉ khiến chúng tôi thêm gắn kết. Đối diện với trấn áp, bạo lực, tổn thất, … biết rõ mình không đơn độc. * Khi bị trấn áp, cụ thể như nhiều người đại diện bị bắt giam, bà con đã làm gì để vượt qua lo sợ? Việc bố mẹ tôi bị kết án 50 tháng tù, 5 người trong nhóm bị bắt và kết án 66 tháng tù tổng cộng nhóm chúng tôi bị kết án 116 tháng tù giam đã gây tổn thất khá nặng nề đối với chúng tôi. Tuy nhiên chúng tôi đã biến đau thương thành hành động, không chùn bước trước bạo quyền, chúng tôi đã tổ chức hàng trăm cuộc biểu tình nhằm lên án, tố cáo tội ác của nhà cầm quyền Hà Nội. Trong những lúc khó khăn ấy, chúng tôi không đơn độc, hàng nghìn người từ khắp nơi trên thế giới đã đồng hành cùng chúng tôi, chia sẻ tinh thần và cả vật chất. Hơn 150 tấn gạo đã chuyển về Dương Nội, có người lượm ve chai tích cóp lại để gửi những kg gạo về, chúng tôi coi đó là động lực tinh thần giúp chúng tôi vượt qua tháng ngày gian khó. Cơ quan ngoại giao các nước, tổ chức nhân quyền và các cơ quan báo chí quốc tế đã không ngừng nỗ lực giúp chúng tôi, điều đó khiến dân làng tôi vững tâm hơn. Có thể nói nhà cầm quyền đã sử dụng trăm mưu ngàn kế với chúng tôi, từ sử dụng côn đồ đến nhà tôi đe doạ giết, cho đến sử dụng bạo lực và nhà tù, các thành viên gia đình tôi và dân làng nhiều lần bị đánh đập rất tàn bạo và khủng bố tinh thần. Cùng với đó là các cơ quan báo chí viết sai lệch vu cáo, quy chụp chúng tôi là bị kích động chống phá chính quyền. Nhưng thực tế, chính đảng cộng sản mới là kẻ kích động chúng tôi phải vùng lên đấu tranh chống áp bức, bóc lột. Việc một vài cá nhân phản bội lại nhóm thì chúng tôi đã lật tẩy âm mưu và khai trừ khỏi nhóm. Dân chủ để hạn chế mâu thuẫn, chia sẻ khó khăn để ngăn ngừa rạn nứt. * Các đụng chạm trong nội bộ - nếu có thường là gì và những người trụ cột của Dương Nội đã làm gì để giải tỏa? Nhóm chúng tôi có rất ít mâu thuẫn; nếu có, thường là nhỏ giữa các thành viên. Nếu có mâu thuẫn chúng tôi tổ chức họp dân và khuyên giải, góp ý. Về phương pháp đấu tranh cũng như soạn thảo nội dung đơn thư khiếu nại chúng tôi đều biểu quyết lấy ý kiến của tập thể nên hầu như không có mẫu thuẫn trong lĩnh vực này. Bất kỳ thành viên nào trong nhóm ốm đau hay nhà có việc nhóm chúng tôi đều đến chia sẻ với gia đình, ngoài ra chúng tôi thường xuyên tổ chức gặp gỡ chia sẻ nhằm thắt chặt tình đoàn kết từ đó ngăn ngừa những sự việc có thể gây rạn nứt tình cảm. Chúng tôi luôn nhắc cho nhau về kẻ thù của chúng tôi là kẻ đã mang danh chính quyền đến đàn áp và cướp đất của chúng tôi chứ không phải là những thành viên trong nhóm. Tất cả các thành viên phải gạt đi hết những bất đồng, những mẫu thuẫn nhỏ nhặt mới có thể tạo được sức mạnh tập thể để đi đến thắng lợi cuối cùng. Đồng hành với Tổ Quốc - Yêu thương, chung thủy, vững tin vào công lý. * Điều khác muốn chia sẻ thêm? Trong cuộc đấu tranh giữ đất, nhóm chúng tôi đã tham gia các phong trào khác như bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, tham gia biểu tình đòi tự do cho các nhà yêu nước, tham gia các phiên toà xét xử người yêu nước bị nhà nước cộng sản bắt giam tuỳ tiện. Và hướng về biển đông, chống sự bành trướng của Bắc Kinh khi đã cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam! Và mới đây là phản đối bè lũ bán nước đã đưa ra dự luật đặc khu và dự luật an ninh mạng. Ngày 22-9-2016, khi bị bắt vào đồn CA Nghĩa Đô, mấy an ninh quận Hà Đông thuyết phục gia đình tôi làm đơn riêng để họ dễ giải quyết. Tôi từ chối, vì cuộc đấu tranh giữ đất của 356 hộ dân phường Dương Nội đã trải qua gần một thập kỷ (bắt đầu từ năm 2008). Trong quãng thời gian dài ấy, chúng tôi đã dựa vào nhau vượt qua những hình thức đàn áp đê hèn của cộng sản Hà Nội, bà con dân oan Dương Nội đã dành cho gia đình tôi những ân tình, và gia đình tôi sẽ không bao giờ phản bội lại bà con đi đêm với cộng sản để mưu lợi cho riêng mình. Hình ảnh ngày 25-7-2015 bà con dân oan, bạn bè đón mẹ tôi kết thúc 15 tháng tù oan. Nhà tù đã từng không khuất phục được chúng tôi. Nay cộng sản Hà Nội lại tiếp tục dùng bản án 20 tháng tù với mẹ tôi để khủng bố gia đình tôi và bà con dân oan, nhưng chúng tôi không chùn bước, bởi chúng tôi tin rằng công lý sẽ được thực thi nếu kiên quyết đấu tranh. Xin được gửi lời cảm ơn đến các tổ chức Nhân Quyền, các tổ chức xã hội dân sự, các cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ, Úc,... Và những cá nhân yêu công lý đã ủng hộ và giúp đỡ chúng tôi trên hành trình đòi Công Lý. *** Câu chuyện của dân làng Dương Nội cho tôi liên tưởng đến hình ảnh những nông dân ở Yên Thế, Thái Nguyên vào thế kỷ thứ 19; đó là những con dân VN đã gìn giữ đất mẹ suốt hàng nghìn năm. Hiểu về họ, chúng ta chợt thấy yêu Dương Nội như yêu một trang sử vừa sống lại giữa đời này. Phụ Chú: (1) Trang facebook "Chuyện của Thịnh": https://hanoigrapevine.com/vi/2018/03/photo-series-we-are-still-here-duong-noi-village/ (2) Nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh được quy định cụ thể tại Điều 5 và Điều 6 Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2012 . Luật Tiếp công dân số 42/2013/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2013, quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; trong đó đối với trường hợp nhiều người cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung thì phải cử người đại diện để trình bày nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (Điểm đ Khoản 2 Điều 7) |
| You are subscribed to email updates from Dân quyền. To stop receiving these emails, you may unsubscribe now. | Email delivery powered by Google |
| Google, 1600 Amphitheatre Parkway, Mountain View, CA 94043, United States | |






0 nhận xét:
Đăng nhận xét