“Tuyên bố về vấn đề sách giáo khoa và cơ chế của ngành Giáo dục” plus 9 more |
- Tuyên bố về vấn đề sách giáo khoa và cơ chế của ngành Giáo dục
- Trần Huỳnh Duy Thức tuyệt thực sang ngày thứ 31
- Ngang nhiên dùng Nhân dân tệ trên đất Việt Nam, tiền chạy thẳng về Trung Quốc
- 2018: Tử huyệt nợ xấu vẫn không thay hình đổi lốt
- Lập pháp Mỹ kêu gọi trừng phạt Trung Quốc
- BẢN DỊCH “NHẬT KÝ TRONG TÙ” - NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY
- Ban Công lý & Hòa bình Giáo phận Vinh: BẢN LÊN TIẾNG Về Các Tù Nhân Lương Tâm & Thực Trạng Nhân Quyền Tại Việt Nam
- Tại sao cần có quan điểm là chỉ được dùng nội tệ trong thanh toán trong nội bộ nền kinh tế?
- Thành viên Hội Anh em Dân chủ bị xử 12 năm tù
- Giải mã khủng hoảng truyền thông Mỹ: một góc nhìn khác
| Tuyên bố về vấn đề sách giáo khoa và cơ chế của ngành Giáo dục Posted: 13 Sep 2018 01:33 PM PDT Mạng Xã hội trong những ngày gần đây có hiện tượng tập trung rất nhiều vào việc tranh cãi xung quanh "cách đánh vần lạ" và một số chi tiết khác được chụp trên sách Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ Giáo dục, từ đó đến tranh cãi về toàn bộ phương pháp Công nghệ Giáo dục đang được thực hiện trên diện rộng. Vì Giáo dục liên quan đến mọi gia đình, hiện tượng trên là điều dễ hiểu, và cũng là mặt tích cực của Mạng Xã hội, phương tiện chưa từng có để người dân Việt Nam phát biểu ý kiến của mình về các chủ trương chính sách của Nhà nước. Góp ý, phê bình cho một quyển sách dạy tiếng Việt và một phương pháp giảng dạy mới liên quan đến hàng triệu con em của đẩt nước là việc rất đúng, rất tốt. Tuy nhiên, việc tập trung bất thường vào một bộ sách giáo khoa phi-nhà nước đang có triển vọng cạnh tranh với bộ sách giáo khoa chính thống của Bộ Giáo dục đương lưu hành cũng như một bộ sách giáo khoa mới cũng của Bộ Giáo dục sắp đưa ra, cùng với những thông tin mang tính gán ghép, xuyên tạc, suy diễn, khiến nhiều người không thể không băn khoăn. Đáng băn khoăn hơn nữa, khi thông tin về buổi họp Quốc hội mới đây, một số vị lãnh đạo Quốc hội công khai nêu lên khả năng sửa lại Luật Giáo dục để bãi bỏ quy định "một chương trình, nhiều sách giáo khoa", trở lại một bộ sách giáo khoa do Bộ Giáo dục độc quyền soạn, in và bán. Chúng tôi cực lực phản đối bất kỳ ý đồ của ai, của cấp nào, nhân vụ tranh cãi trên Mạng Xã hội quanh sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1, để rắp tâm quay lại áp đặt ách độc quyền đã chứng tỏ quá tai hại đối với nền giáo dục đã khủng hoảng đến tận cùng! Nền giáo dục Việt Nam phải được cải tổ từ căn bản, từ triết lý Giáo dục, khôi phục tinh thần "Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng", đến phương pháp Giáo dục cập nhật những thành tựu của nhân loại, và tổ chức Giáo dục theo hướng Dân chủ, cởi mở, trong đó có việc Tự do soạn, xuất bản và lựa chọn học sách giáo khoa như đã và đang là chuyện bình thường ở tất cả các nước Dân chủ. Xoá bỏ Độc quyền sách giáo khoa nằm trong toàn bộ tiến trình xoá bỏ Độc quyền về mọi mặt của thể chế. Lộ trình đi đến đích ấy là rất gian nan, không thể chấp nhận một bước lùi như một số người có trách nhiệm cao nhất của chính quyền đang dự kiến. Ngày 13 tháng 9 năm 2018 Nhóm Lão Mà Chưa An | ||||||
| Trần Huỳnh Duy Thức tuyệt thực sang ngày thứ 31 Posted: 13 Sep 2018 01:30 PM PDT 13/09/2018 Nhiều người tranh đấu, bloggers đồng hành tuyệt thực cùng tù nhân chính trị Trần Huỳnh Duy Thức. Facebook Tran Tuan Anh Viet. Cuộc tuyệt thực của nhà hoạt động Trần Huỳnh Duy Thức, đang chịu án tù 16 năm tại tỉnh Nghệ An, có thể đã bước sang ngày thứ 31, giữa lúc gia đình rất lo lắng cho sức khỏe của ông, và nhiều người ủng hộ cả ở trong và ngoài nước cũng tuyệt thực để đồng hành với ông và kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do cho ông ngay lập tức. Trao đổi với VOA hôm 13/9 từ thành phố Hồ Chí Minh, bà Lê Đính Kim Thoa, vợ của ông Thức, nói gia đình rất lo lắng về tình trạng sức khỏe của chồng bà, và dù gia đình đã khuyên ông ngừng tuyệt thực nhưng ông không đồng ý. "Hôm 31/8 khi vô thăm thì anh nói anh sẽ tiếp tục tuyệt thực. Anh không nghe theo lời gia đình khuyên. Tính đến ngày hôm đó thì anh đã tuyệt thực được 18 ngày rồi. Cho đến bây giờ vẫn chưa nhận được thông tin gì về anh. Thời gian như vậy là quá dài so với sức chịu đựng của một con người. Xin chỉ cầu xin cho anh được bình an".
Bà Thoa cho biết phía trại giam không phản hồi yêu cầu hỏi thăm sức khỏe ông Thức qua điện thoại. Bà chỉ trông chờ vào chuyến thăm tù vào ngày 15/9 để biết tình hình của chồng mình ra sao. Bức thư gửi lãnh đạo Việt Nam ngày 12/9/2018. Facebook Trần Huỳnh Duy Thức Ông Trần Văn Huỳnh, cha của ông Trần Huỳnh Duy Thức hôm 9/9 đã gởi thư khẩn kêu cứu vì lo sợ cho tính mạng con mình. Theo như trong thư kêu cứu, ông Trần Văn Huỳnh cho biết mỗi ngày gia đình đều gọi điện thoại vào trại giam số 6 Nghệ An để hỏi thăm nhưng trại giam không bắt máy, không trả lời điện thoại. Trong lần gặp gần đây nhất cách đây hai tuần, gia đình Trần Huỳnh Duy Thức thấy ông rất mệt và yếu do tuyệt thực dài ngày, từ 14/8/2018. Lý do tuyệt thực là vì phía an ninh đang muốn gây áp lực buộc ông Thức nhận tội để được đặc xá.
Bà Thoa cho biết thêm: "Lý do chính mà anh đưa ra là: phải thượng tôn pháp luật – anh Thức là người không có tội, vì vậy phải thả anh theo điều luật mới; vụ án của anh phải trở thành án lệ - lật đổ chính quyền thì phải có tác động vật lý thì mới cấu thành điều 79 'lật đổ chính quyền,' anh không phải đấu tranh cho riêng anh mà tất cả các tù nhân lương tâm bị kết tội cùng tội danh sau này". Hôm 12/9, nhiều cá nhân và tổ chức dân sự độc lập ở Việt Nam đã lập thỉnh nguyện thư gửi Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch nước, Chánh an Tòa án Tối cao và các cơ quan khác, yêu cầu xem xét vụ án của ông Trần Huỳnh Duy Thức dựa trên luật pháp hiện hành và quyết định trả tự do cho ông Thức ngay lập tức, vì họ cho rằng "trường hợp của ông đáp ứng các điều kiện luật định để được hưởng mức hình phạt thấp hơn mức án 16 năm tù mà ông đã bị tuyên phạt". Các buổi lễ cầu nguyện tập thể đã diễn ra ở một số nơi trong nước để bày bỏ sự đồng tình và ủng hộ lòng kiên cường của ông Trần Huỳnh Duy Thức, 52 tuổi, một kỹ sư và cũng là một doanh nhân. Ông bị bắt vào tháng 5/2009 về tội "lật đổ chính quyền". Từ Nghệ An, linh mục Đặng Hữu Nam, thuộc giáo xứ Mỹ Khánh, nơi các linh mục và giáo dân hàng tuần đến thắp nến cầu nguyện cho ông Thức. Linh mục Nam nói với VOA:
"Chúng tôi là các giáo dân và cha xứ của giáo xứ Mỹ Khánh, đồng hành cùng anh Trần Huỳnh Duy Thức. Chúng tôi rất thao thức khi các thông tin về tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức không được đưa ra, với một con người bình thường khi tuyệt thực trong 30 ngày là những ngày cuối của ngưỡng sức chịu đựng. Chúng tôi rất lo lắng. Chúng tôi nhìn về anh Trần Huỳnh Duy Thức là một mẫu gương, một người anh dũng trong việc đấu tranh cho công lý, hòa bình, cho dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam". Thượng tọa Thích Vĩnh Phước ở huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cho VOA biết trong tuần này các chư tăng và Phật tử cũng tổ chức lễ cầu nguyện và tự nguyện tuyệt thực từ 1 đến 3 ngày, để đồng hành cùng tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức. "Các chư tăng đã làm lễ cầu nguyện và tuyệt thực 1 ngày, đồng hành với anh Trần Huỳnh Duy Thức. Các Phật tử, với tinh thần rất cao, đã tuyệt thực từ 2 đến 3 ngày. Đạo tràng chúng tôi cũng có làm lễ cầu an, và hướng tâm cầu nguyện cho anh Trần Huỳnh Duy Thức, người đang chịu án tù 16 năm, anh đã ở trong tù được 9 năm".
Đầu tháng 8/2018 Tổng cục 8 của Bộ Công an đã có văn bản trả lời luật sư Ngô Ngọc Trai - người thường xuyên lên tiếng đề nghị chính quyền đặc xá và trả tự do cho ông Thức: "Hiện nay Nhà nước ta chưa có chủ trương đặc xá năm 2018 nên không có căn cứ để xem xét, đề nghị đặc xá cho phạm nhân Trần Huỳnh Duy Thức". Tháng trước, ông Trần Huỳnh Duy Tân, em trai của ông Thức, nói với báo chí rằng anh ông đang bị nhà chức trách ép buộc phải nhận tội thì mới có thể được xét đặc xá, nhưng tù nhân Trần Huỳnh Duy Thức cương quyết không nhận tội. Nhiều blogger trong và ngoài nước đang đồng hành và tuyệt thực cùng ông Thức. Từ Hà Nội, Blogger Lien Huynh viết trên Facebook hôm 12/9: "Bắt đầu 0h ngày 13/9/2018 tôi sẽ tuyệt thực 24h để đồng hành cùng anh, sau một ngày nếu điều kiện sức khoẻ cho phép tôi sẽ tiếp tục đồng hành cùng anh để yêu cầu nhà nước phải thả tự do vô điều kiện cho Trần Huỳnh Duy Thức theo luật định của pháp luật". Các blogger ở Hà Nội mặc áo có in hình chân dung Trần Huỳnh Duy Thức. Facebook Lê Hoàng Từ Melbourne, Úc, hôm 13/9, bà Bach Nga cũng đồng hành cùng ông Thức với lời nhắn: "Gửi hơi ấm về Cố hương...Tuyệt thực tiếp sức một ngày đồng hành cùng anh Trần Huỳnh Duy Thức. Yêu cầu nhà cầm quyền Vietnam trả tự do ngay lập tức cho anh, người con ưu tú của nước Việt. Yêu Nước Không Có Tội!". Blogger Minh Không từ Châu Âu cho biết trên Facebook rằng ông quyết định tuyệt thực 3 ngày từ ngày 13 đến ngày 16/9 để đồng hành cùng ông Thức. Từ Hoa Kỳ, Blogger Điếu Cầy – Nguyễn Văn Hải, người từng tuyệt thực trong trại số 6 Nghệ An, chia sẻ trên trang cá nhân rằng ông và các bạn bè ở thành phố Seattle, bang Washington đã đồng hành cùng ông Trần Huỳnh Duy Thức. Linh mục Đặng Hữu Nam nhận định rằng rõ ràng việc chính quyền Việt Nam bỏ tù và ép ông Thức nhận tội là vi phạm hiến pháp và pháp luật. "Vốn dĩ việc anh bị bỏ tù là việc vi hiến và vi phạm pháp luật rồi. Vậy mà hiện nay trong nhà tù anh đang chịu nhiều áp bức. Công an và nhà cầm quyền ép anh nhận tội để rồi phóng thích anh, nhưng anh không chấp nhận vì anh không có tội. Và anh cũng tuyên bố rằng anh không có tội nên không nhận tội". Blogger Võ Xuân Sơn ở Thành phố Hồ Chí Minh viết trên Facebook hôm 13/9: "Được biết anh Trần Huỳnh Duy Thức tuyệt thực đã hơn 30 ngày, tôi không khỏi lo lắng cho sức khỏe của anh. Tuyệt thực là một phương pháp đấu tranh bất bạo động, rất có hiệu quả với các chính thể coi trọng con người. Ở Việt nam, nơi mà nhân quyền không được coi trọng, thì việc tuyệt thực của anh sẽ ít có tác dụng với chính quyền này".
Blogger này khuyên rằng: "Trần Huỳnh Duy Thức, anh phải sống! Dù anh có đang ở trong tù, thì anh vẫn là niềm hy vọng của rất nhiều người dân Việt nam". Blogger Mạnh Kim ở Sài Gòn, viết trên Facenook hôm 13/9: "Cách đây hơn 10 năm, khi mạng xã hội chỉ là một không gian chật hẹp giới hạn ở các trang blog, ông Trần Huỳnh Duy Thức đã nỗ lực đục thủng màn đêm để soi rọi ánh sáng tri thức vào các góc tối thời cuộc, như một người trí thức có lương tri đúng nghĩa. Ông không là người đi đầu trong việc nói lên thực trạng đất nước nhưng ông là người tiên phong trong việc phác họa những gì cần làm để đi tới tương lai". Nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/tran-huynh-duy-thuc-tuyet-thuc-sang-ngay-thu-31/4570065.htmlĐọc thêm: Tuyệt thực có ý nghĩa gì trong thế giới hiện đại?Nguyễn Tuấn Khanh2018-09-13 Phong trào tiếp sức tuyệt thực cùng ông Trần Huỳnh Duy Thức. Courtesy FB Có bao giờ bạn tự hỏi, người ta biểu thị sự phản kháng bằng tuyệt thực để làm gì, và vì sao lại có chuyện tuyệt thực? Tuyệt thực đã có trong lịch sử của loài người từ rất lâu, thậm chí hình thức này đã nằm trong ghi chép của luật pháp Ireland cổ xưa. Nếu ai đó nhận ra điều sai trái của bạn và tự mình nhịn đói đến chết trước cửa nhà bạn, đó là một món nợ danh dự và công lý suốt cuộc đời mà bạn phải gánh. Trong đời sống hiện đại, Mahatma M. Gandhi (1869-1948), người tiên phong của phong trào bất tuân dân sự, đã phát động nhiều cuộc tuyệt thực và ăn chay để phản đối sự cai trị hà khắc của người Anh tại Ấn Độ. Con đường bất bạo động của ông tạo ra một giá trị khác của việc biểu tình: Những người tuyên bố tuyệt thực hay tham gia tuyệt thực không mang ý nghĩa của "chống lại", mà họ hành động dựa trên sức mạnh tinh thần để đòi hỏi việc đạt được một giá trị phổ quát mang tính đại chúng.
Tuyệt thực trong việc phản kháng, bất tuân dân sự thường bị các chế độ độc tài hay cộng sản bóp méo là một hình thái như "nằm vạ", nhưng thực chất các cuộc "nằm vạ" đó cao quý ở chỗ là các yêu cầu của người tuyệt thực thường nhắm đến một quyền lợi chung của cộng đồng, hay công bằng xã hội. Tuyệt thực được giáo sư Sharman Apt Russell, tác giả của Hunger: An Unnatural History (tạm dịch Nhịn đói: Một lịch sử bất thường) dẫn ra với những ví dụ đáng kính trọng, và thành quả của nó đã thúc đẩy nền văn minh và nhân ái của con người. Một trong những người tuyệt thực đầu tiên được ghi vào sử sách đầu thế kỷ 20, là trường hợp của bà Marion Wallace-Dunlop (1864-1942). Là người đấu tranh cho nữ quyền và yêu cầu cho phái nữ phải được quyền bỏ phiếu bầu như nam giới, bị bắt giam, bà đã từ chối các bữa ăn. Khi bác sĩ trong trại giam đến yêu cầu bà dùng đến các phần ăn, bà đã tuyên bố "Ăn, là một quyền tự quyết của tôi". Bà đã được trả tự do khỏi nhà tù Holloway sau 91 giờ tuyệt thực. Nhưng cũng có chính quyền bất chấp cái chết của công dân mình. Chẳng hạn như trường hợp Bobby Sands (1954-1981), người đấu tranh cho việc cải thiện chế độ lao tù ở Bắc Ireland vào năm 1981. Đó là vết nhơ khó tả của chính quyền bấy giờ và bị ghi vào sử sách nhân loại như một hệ thống khủng bố con người. Trong mắt thế giới, loại chính quyền để cho công dân của mình tuyệt thực đến chết vì quan điểm khác biệt, là loại vô liêm sỉ. Việc phản kháng bất bạo động là hình thức phổ biến và được rất nhiều người thực hiện, bao gồm những người không phải là chính trị gia. Mia Farrow – nữ diễn viên điện ảnh cũng đã áp dụng cách tuyệt thực để phản đối cuộc xung đột ở Darfur trong năm 2009. Chính quyền Khartoum (Sudan) đã dùng quân đội và công an để trấn áp và khuất phục dân chúng tại Darfur rằng chỉ có họ mới có quyền duy nhất lãnh đạo đất nước. "Tuyệt thực trở thành một hình thái văn hóa được tổ chức để kiếm tìm công lý trong thế kỷ 20" ("It has become an established cultural form of seeking justice in the 20th Century), nữ giáo sư Sharman Apt Russell đã khẳng định như vậy, trong sách của mình. Tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức đang tuyệt thực trong trại giam số 6, Thanh Chương, Nghệ An RFA edit Tuy nhiên bà Russell cũng cảnh báo rằng, sức mạnh của vấn đề tranh đấu bằng tuyệt thực là được sự quan tâm liên tục của công chúng. Sức mạnh của việc tuyệt thực sẽ yếu dần nếu công chúng bị chính quyền tổ chức đánh lảng qua các sự kiện khác như giải trí, các vụ bê bối dàn dựng… Công lý và tính mạng của người tranh đấu phụ thuộc và sức quan tâm và chia sẻ lan rộng của cộng đồng. Thế kỷ 21, cộng đồng mạng là một sức mạnh vô lượng trong việc hậu thuẫn và giải cứu những người chọn đấu tranh bằng tuyệt thực. Tuyệt thực không phải là hình thức hay nhất trong các loại tranh đấu, tuy nhiên vì hiệu quả của nó, nên tuyệt thực đã được sử dụng bởi cả hai phong trào bạo động và bất bạo động. Ý nghĩa phát đi khắp nơi cho thấy một hình ảnh quan trọng rằng ước muốn ôn hòa và chính nghĩa của người tranh đấu, đại diện cho sự tuyệt vọng và bất tín của nhân dân đối với nhà cầm quyền. Nhà nghiên cứu xã hội học Michael Biggs từ đại học Oxford ghi nhận rằng thường thì các chính quyền đối diện với các trường hợp tuyệt thực, sẽ không sớm có các hành động nhượng bộ nhằm thách thức sức mạnh tinh thần và chịu đựng của các nhà tranh đấu. Nhưng càng kéo dài, chính quyền càng nhận được số lượng dân chúng căm ghét dành cho họ ngày càng lớn hơn. "Tính bất tuân dân sự và bất hợp tác của người dân dành cho chính quyền ngày càng lớn, đó là khởi đầu cho những hỗn loạn và sụp đổ của một chế độ coi thường mạng sống và tiếng nói của người dân", Michael Biggs viết. Trở lại với trường hợp đau lòng của nghị sĩ Bobby Sands, khi ông mất vì suy kiệt từ cuộc tuyệt thực cho việc đòi cải thiện chế độ lao tù, đám tang của ông tại Belfast đã có đến 100.000 tham dự, mở đầu cho tiền đề của một cuộc đổi thay. Trong thời hiện đại, việc đưa đám tang của một người tuyệt thực đến chết vì công lý và cộng đồng, hoặc chỉ tưởng niệm tại nhà, là những cam kết dứt khoát về việc không còn chấp nhận chế độ đương nhiệm. Hầu hết những người đấu tranh bằng tuyệt thực muốn sử dụng mạng sống của mình như một cam kết sẵn sàng trả giá cho đổi thay. Tuyệt thực không có nghĩa là người tranh đấu muốn kết cục là cái chết, nhưng họ sẵn sàng chấp nhận cái chết, như một cột mốc để chính quyền xét lại tự cách cầm quyền của mình, trước sự giám sát và phẫn nộ của nhân dân. Nếu được uống nước, một người tuyệt thực dẻo dai có thể sống đến 60 ngày, tuy nhiên, với thể trạng yếu và mang bệnh, bất kỳ ai cũng có thể chết trong vòng 8 đến 10 ngày. Việc tuyệt thực trong lao tù cũng vẫn hay xảy ra. Vì bởi trong trại giam, khó có hình thức nào biểu tình được, ngoài tuyệt thực. Trong tù, chính phủ chính xác là nơi phải chịu trách nhiệm cho cuộc sống của tù nhân, nếu tù nhân chết, lời kết án sẽ nhắm vào chính phủ từ người dân cũng như các quốc gia khác đang có thông tin theo dõi về tình trạng trên. Thế kỷ 21, đám đông dân chúng có thể gửi thỉnh nguyện thư cho tòa án quốc tế để xét xử quan chức/chính quyền chịu trách nhiệm về thảm trạng. Trường hợp của Giang Trạch Dân bị tòa án Tây Ban Nha truy nã về việc thảm sát con người (2013) do đơn tố cáo từ một người Tây tạng tên là Thubten Wangchen, là một ví dụ. Theo cáo quyết, tất cả những quốc gia liên đới ngoại giao và chính sách nhân quyền với Tây Ban Nha đều có nghĩa vụ truy nã và bắt giữ Giang Trạch Dân, bất chấp việc ông ta nguyên là Chủ tịch Trung Quốc. N.T.K.————– PHỤ LỤC ————– Một người tuyệt thực có thể kéo dài mạng sống đến bao lâu? Nếu được uống nước, một người tuyệt thực dẻo dai có thể sống đến 60 ngày, tuy nhiên, với thể trang yếu và mang bệnh, bất kỳ ai cũng có thể chết trong vòng 8 đến 10 ngày. Một trong lý do có thể giúp kéo dài sức chịu đựng, khi glucose – lượng đường trong cơ thể cạn kiệt – thường là từ 3-5 ngày. Cơ thể sẽ chuyển qua việc dùng chất béo có sẵn trong cơ thể để làm năng lượng sinh tồn. Nhưng như vậy đồng nghĩa với việc chất béo xuất hiện trong máu vượt mức, sẽ trở thành nguy hiểm. Tim, gan và thận sẽ là những bộ phận bị tổn thương nhanh trong giai đoạn này. Theo lời khuyên của các bác sĩ, những người tuyệt thực nên uống nhiều nước, uống vitamin, đường và muối… sẽ có thể kéo dài mạng sống của mình thêm đôi chút. Trong trường hợp của ông Trần Huỳnh Duy Thức ở trại giam Nghệ An hiện nay, được biết ông chỉ uống nước và từ chối mọi thành phần bổ sung. * Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự DoNguồn: https://www.rfa.org/vietnamese/news/blog/what-does-hunger-strike-mean-in-modern-era-09132018110118.html | ||||||
| Ngang nhiên dùng Nhân dân tệ trên đất Việt Nam, tiền chạy thẳng về Trung Quốc Posted: 13 Sep 2018 01:22 PM PDT Lương Bằng 13/09/2018 03:00 GMT+7 Tiêu tiền Nhân dân tệ bất hợp pháp ở Việt Nam Mới đây, Văn phòng Chính phủ có văn bản truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ liên quan đến việc chuyển tiền kinh doanh qua POS trái phép về Trung Quốc. Trong đó, Phó Thủ tướng đã giao cho Bộ VH-TT&DL, Bộ Công an, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, UBND các tỉnh, thành trực thuộc Trung ương kiểm soát ngăn chặn tình trạng này. Thực tế, sau những chỉ đạo ráo riết của Chính phủ, các bộ, ngành địa phương đã lần lượt nêu quan điểm của mình về tình trạng trên. Cửa hiệu trưng biển có biểu tượng của ứng dụng Wechat, đồng thời ghi rõ tỷ giá tiền Nhân dân tệ quy đổi sang tiền Đồng Trong báo cáo mới đây, Bộ Tài chính mới đây đã thẳng thắn đề cập quan điểm về các "tour du lịch 0 đồng". Bộ Tài chính cho hay: Tại một số địa bàn du lịch trọng điểm như Quảng Ninh, Đà Nẵng, Nha Trang bùng phát hiện tượng các "tour du lịch 0 đồng" với nguồn khách chủ yếu là khách Trung Quốc. Về bản chất, các tour du lịch này không phải là khách hàng được đi du lịch miễn phí. Đây là một hình thức thu hút khách của các công ty lữ hành Trung Quốc. Ban đầu, các công ty này đưa ra mức giá cho khách đi du lịch tại Việt Nam với chi phí rất thấp, thậm chí không thu tiền khách hàng. Sau đó, khi khách hàng tham gia tour du lịch tại Việt Nam, các công ty này sẽ khai thác lợi nhuận từ khách hàng bằng cách đưa khách vào sử dụng một chuỗi dịch vụ khép kín bao gồm: Ăn uống, lưu trú, tham quan, mua sắm. Đây chính là các địa điểm do chính các công ty này lập nên hoặc chỉ định. Nổi cộm trong chuỗi dịch vụ này chính là hoạt động mua sắm tại các cơ sở bán hàng đã được chỉ định trước. Nói về các điểm mua sắm này, Bộ Tài chính cho hay "thường do chủ người Trung Quốc điều hành, bán hàng" nhưng lại thuê người Việt Nam đứng tên, đăng ký kinh doanh. Sau khi mua sản phẩm, khách hàng sẽ có hai phương thức nhận hàng. Đó là nhận tại chỗ, điều mà Bộ Tài chính nhận định là "chiếm tỷ trọng nhỏ". Còn cách hai chiếm tỷ trọng lớn, chủ yếu, chính là nhận tại địa chỉ của khách hàng bên Trung Quốc. "Đây chính là nguyên nhân dẫn đến nguy cơ khách hàng nhận phải hàng giả, hàng kém chất lượng. Còn kinh tế Việt Nam thì có nguy cơ thất thu vì không 'xuất khẩu' được hàng hóa, khách Trung Quốc lại mua chính hàng Trung Quốc trên đất Việt Nam", Bộ Tài chính quan ngại. Nói về phương thức thanh toán, Bộ Tài chính nêu rõ việc khách hàng ngang nhiên thanh toán bằng đồng Nhân dân tệ hoặc thanh toán qua thẻ bất hợp pháp. Đó là sử dụng thẻ do ngân hàng Trung Quốc phát hành quẹt qua máy POS do ngân hàng Trung Quốc phát hành mà không cần đăng ký với ngân hàng Việt Nam". Hoặc thanh toán bằng cách sử dụng các ví điện tử như Alipay, Wechat Pay do các đối tượng Trung Quốc cung cấp cho du khách Trung Quốc. "Đây là các thủ đoạn mới, tinh vi nhằm đối phó với các cơ quan chức năng Việt Nam. Với các phương thức thanh toán này, các cơ quan quản lý của Việt Nam khó kiểm soát được dòng tiền, doanh thu bán hàng của các điểm bán hàng", Bộ Tài chính đánh giá và cho rằng đây là vấn đề cần được kiểm soát nhưng còn nhiều khó khăn. Chấn chỉnh tình trạng ngang nhiên thanh toán qua các ví điện tử Trung Quốc Sai phạm về thuế nghiêm trọng sẽ chuyển công anBộ Tài chính cho biết đã đề ra nhiều biện pháp quản lý, nên hiện tượng tour du lịch 0 đồng đã giảm mạnh trong năm 2016, 2017. Tuy nhiên, các cơ sở kinh doanh do người Trung Quốc lập ra, điều hành đã tìm ra các thủ đoạn, hành vi mới như thanh toán qua POS trái phép, thanh toán qua các ví điện tử bất hợp pháp... Điều đó khiến công tác quản lý hoạt động kinh doanh du lịch còn nhiều vướng mắc. Chẳng hạn, dù có tình trạng trên nhưng các cơ quan quản lý vẫn chưa có biện pháp giám sát, phát hiện kịp thời để ngăn chặn và xử lý. Công ty lữ hành trong nước chuyên mua lại tour đón khách Trung Quốc còn hạn chế về năng lực, tài chính, cơ sở vật chất lẫn nhân lực. Các công ty này vẫn chịu nhiều sức ép, chịu chi phối bởi các công ty lữ hành quy mô nhỏ, sẵn sàng trục lợi đối với khách du lịch, sau đó giải thể công ty và thành lập pháp nhân mới để trốn tránh sự quản lý, xử lý của các cơ quan chức năng. Bên cạnh đó, theo Bộ Tài chính, vẫn còn tồn tại tình trạng hướng dẫn viên là người Trung Quốc lao động chui tại Việt Nam. Các đối tượng này rất dễ móc nối với các chủ cơ sở kinh doanh cung cấp dịch vụ, sản phẩm hàng hóa cho khách du lịch để trục lợi. Trong công tác quản lý thuế, Bộ Tài chính thừa nhận cơ quan thuế chưa có đầy đủ kịp thời thông tin về các công ty lữ hành, các cơ sở kinh doanh,... làm cơ sở dữ liệu. Điều đó gây khó khăn trong việc xác định được đầy đủ doanh thu của các cơ sở kinh doanh khi các chủ các cơ sở này cung cấp, chấp nhận các phương thức thanh toán bất hợp pháp và cố tình không khai báo. Một trong những biện pháp Bộ Tài chính đề ra thời gian tới là sẽ xây dựng chuyên đề thanh tra, kiểm tra các công ty lữ hành tại các địa bàn trọng điểm. Khi phát hiện các sai phạm về thuế là nghiêm trọng thì cần củng cố hồ sơ, chuyển công an xử lý theo quy định. L.B. Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/tai-chinh/thanh-toan-nhan-dan-te-tren-dat-viet-nam-ngang-nhien-vi-pham-thu-doan-tinh-vi-476333.html | ||||||
| 2018: Tử huyệt nợ xấu vẫn không thay hình đổi lốt Posted: 13 Sep 2018 01:20 PM PDT 13/09/2018 Tượng đài Nguyễn Tất Thành và thân phụ Nguyễn Sinh Sắc tại tỉnh Bình Định, 18/5/2017. (Ảnh chụp từ Báo Bình Định) Khi năm 2018 đã ngầy ngật kéo lê được 2/3 thời gian của nó, trừ kết quả thu ngân sách nhà nước vẫn đạt được kế hoạch dự kiến bởi chính sách 'thu cùng diệt tận giai đoạn cuối', hai tử huyệt tài chính quốc gia khác là nợ công và nợ xấu vẫn không hề được thay hình đổi lốt. Sự dối trá ngọt ngào "VAMC được cấp 2.000 tỷ đồng vốn điều lệ, năm 2017 đã mua 3.200 tỷ đồng nợ xấu và dự kiến, năm 2018 mua khoảng 3.500 tỷ đồng nợ xấu. Nhưng các tổ chức tín dụng đăng ký bán nợ cho VAMC khoảng 20.000 tỷ đồng, như vậy rất khó mua được các khoản nợ này", ông Nguyễn Tiến Đông, Chủ tịch HĐQT VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng) trần tình với gương mặt có vẻ nhăn nhúm khổ sở. Lời trần tình trên mang hàm ý gì?Dù chỉ nêu vài số liệu nhỏ nhoi, nhưng cái cách trần tình của ông Nguyễn Tiến Đông đã một lần nữa, sau khoảng một tá lần thanh minh của những quan chức khác kể từ lúc VAMC được thành lập vào năm 2013, khẳng định một sự thật như đinh đóng cột: sau 5 năm hoạt động, VAMC đã hầu như không mua nợ xấu của các ngân hàng thương mại cổ phần bằng 'tiền tươi thóc thật', nghĩa là hầu như không dùng tiền mặt được ngân sách nhà nước cấp để mua nợ xấu, mà chỉ mua… trên giấy. Bản báo cáo của Ngân hàng nhà nước vào tháng Tám năm 2018 vẫn 'phát huy thắng lợi' đưa tỷ lệ nợ xấu về dưới 3% của thời thống đốc cũ là Nguyễn Văn Bình, trong đó liệt kê chủ yếu công trạng của VAMC khi đã 'xử lý' được vài trăm ngàn tỷ đồng nợ xấu và lời trấn an của một số chuyên gia nhà nước về 'nợ xấu vẫn trong tầm kiểm soát và chưa có gì đáng lo'. Nhưng thực tế đã trái ngược với báo cáo đậm chất tuyên giáo một chiều của Ngân hàng nhà nước. Vào năm 2018, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đối mặt với tình trạng chung là quy mô nợ xấu đang tăng lên đáng kể bởi nợ xấu cũ dồn tích lại đến nay và nợ xấu mới phát sinh do tăng trưởng cho vay chứng khoán và bất động sản, khiến số dư nợ xấu tăng cao và có tới 12/17 ngân hàng có tỉ lệ nợ xấu tăng so với cuối năm trước. Thống kê số liệu từ báo cáo tài chính của 15 ngân hàng niêm yết cho thấy tổng nợ xấu tăng 9,8% về quy mô so với thời điểm đầu năm. Đặc biệt, tổng số nợ nhóm 5, tức nợ có khả năng mất vốn, tăng đến 17,9%, chiếm 54% tổng dư nợ, tăng gần 2 phần trăm so với hồi đầu năm 2018. Ở nhóm các ngân hàng niêm yết, VPBank hiện là ngân hàng có tỉ lệ nợ xấu cao, chiếm gần 4,07% trên tổng cho vay, trong khi cùng kỳ năm ngoái ở mức gần 3,4%. Tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn (SCB), tỉ lệ nợ xấu chiếm đến 6,48% tổng dư nợ, với quy mô 897 tỉ đồng. Với ở một ngân hàng có quy mô nhỏ như SCB, quy mô nợ xấu này về tuyệt đối cũng không lớn trên thị trường, nhưng lại quá cao về tỉ lệ tuyệt đối. Diễn biến cũng tương tự ở các ngân hàng Techcombank, SHB, ACB… Trong số hàng chục ngân hàng hoặc hơn thế đang vướng vòng 'lao lý nợ xấu', có những cái tên mà từ năm 2016 đến nay đã bị không ít dư luận cho rằng có thể rơi vào cảnh phá sản vào một ngày đẹp trời nào đó, sau những cái tên đi tiên phong là Ngân hàng Xây Dựng, Ngân hàng Đại Dương và Ngân hàng Dầu khí Toàn Cầu. Ba ngân hàng tiên phong trên đều đã có thủ lĩnh bị 'trảm' với mức án từ vài chục năm đến chung thân và tử hình. Nhưng cho dù đã được thống đốc thời trước là Nguyễn Văn Bình đặc cách 'mua ngân hàng với giá 0 đồng' mà về thực chất là Ngân hàng nhà nước bỏ ra một khoản tiền lớn (lấy từ ngân sách - tiền đóng thuế của dân) để trám vào cái lỗ hổng kinh khiếp làm ăn thua lỗ và tham nhũng tại ba ngân hàng này, cho tới nay cả Xây Dựng, Đại Dương và Dầu khí Toàn Cầu đều không thể tự xử lý được nợ xấu, mà nợ xấu đã tăng vượt mặt tổng vốn điều lệ, khiến nguy cơ một sớm một chiều phải phá sản là thấy rõ. Và cũng cần chú ý là tỷ lệ nợ xấu của nhiều ngân hàng thương mại hiện thời - tuy vượt trên ngưỡng 3% nhưng vẫn chỉ ở mức 5 - 6%, tức chỉ là 'nợ xấu nội bảng', theo một thuật ngữ đặc thù của ngành tài chính Việt Nam. Trong thực tế, số nợ xấu này chưa tính đến phần nợ xấu mà ngân hàng đã 'bán' cho VAMC, tức bán trên giấy tờ, cũng vào khoảng 3-6% nữa. 'Vũ điệu nhảy múa' Dũng - BìnhChẳng phải tự nhiên hay không có cơ sở mà ngay vào năm 2011, tức chỉ hai tháng trước khi Nguyễn Văn Bình trở thành thống đốc của Ngân hàng nhà nước, một cơ quan xếp hạng tín dụng có uy tín trên thế giới là Fitch Ratings đã nêu ra tỉ lệ nợ xấu của Việt Nam là 13%, gấp bốn lần số báo cáo của Ngân hàng nhà nước cùng thời điểm. Đến đầu năm 2014, một tổ chức xếp hạng tín dụng quốc tế khác là Moody's đột ngột công bố tỉ lệ nợ xấu của Việt Nam lên đến 15%. Công bố này được phổ biến rộng rãi trên truyền thông thế giới và càng làm cho chính phủ Việt Nam khổ sở trên con đường minh bạch hóa chưa bỏ được thói bưng bít và bất nhất thông tin. Về mặt triết học biện chứng của chủ nghĩa cộng sản, những con số nợ xấu từ thời Thống đốc Nguyễn Văn Bình đến Thống đốc Lê Minh Hưng nêu ra là cực kỳ bất nhất và không thể tin được. Nếu vào cuối năm 2014 khi tình hình nguy ngập, lần đầu tiên Thống đốc Bình mới chịu công khai số nợ xấu là 500.000 tỷ, trong khi vào thời điểm năm 2013 Ngân hàng nhà nước chỉ công bố "láo" con số nợ xấu vào khoảng 150.000 tỷ đồng, thì con số nợ xấu mà đời lãnh đạo sau của ông Bình phải 'đổ vỏ' đã có thể lên đến 1,2 triệu tỷ đồng. Vũ điệu nhảy múa số liệu nợ xấu của Ngân hàng nhà nước đã biến diễn đầy ma mị kể từ khi chính phủ mới của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được thành lập vào tháng Tám năm 2011. Từ đó đến nay, thống kê sơ bộ cho thấy đã có ít nhất 15 lần tỉ lệ nợ xấu được Ngân hàng nhà nước cho "khiêu vũ," với độ biến thiên từ 3% đến 17%. VAMC 'xử lý nợ xấu' bằng cách nào? Khoảng thời gian 2014 - 2015 cũng mang một đặc thù chính trị nổi bật không thua gì nợ xấu bất khả thu hồi: ê kíp thủ tướng khi đó là Nguyễn Tấn Dũng và thống đốc ngân hàng khi đó là Nguyễn Văn Bình - chuẩn bị cho cuộc chạy đua đến đại hội 12 của đảng cầm quyền - đã khởi tạo một chiến dịch cưỡng ép nợ xấu về dưới 3% tổng dư nợ cho vay. Cưỡng ép bằng cách nào?Vào năm 2014, Thống đốc Bình đã phát ra một sáng kiến là chỉ đạo cho VAMC gửi đến 500 bộ hồ sơ chào bán nợ xấu Việt Nam cho các tổ chức tài chính nước ngoài. Thế nhưng từ đó đến nay vẫn không có bất kỳ hồi âm chính thức nào từ các 'đối tác tiềm năng' về tư thế sẵn sàng ôm lại núi nợ xấu ấy, vô hình trung cũng làm tan hoang phong cách tuyên giáo 'các đối tác nước ngoài phải xếp hàng để được mua nợ xấu của VAMC'. Thay cho các 'đối tác nước ngoài', chính các ngân hàng thương mại trong nước đã nhận được mệnh lệnh từ Ngân hàng nhà nước phải bán nợ xấu cho VAMC… trên giấy. Cho đến gần đây, tổng số nợ xấu được bán như thế là khoảng từ 250.000 - 300.000 tỷ đồng, đủ để VAMC lập báo cáo thành tích đầy ấn tượng, còn lãnh đạo Ngân hàng nhà nước thì báo cáo ra các kỳ họp quốc hội là đã giảm được đến 600.000 tỷ đồng nợ xấu. Ngay từ lúc đầu thành lập, VAMC đã được ngân sách nhà nước cấp 2.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, số tiền này chỉ như muối bỏ biển so với số nợ xấu lên đến khoảng 1,2 triệu tỷ đồng vào thời gian đó. Hơn nữa, VAMC cũng không hề dùng tiền thực để mua nợ xấu vào thời gian đó, mà bị cho rằng đã dùng toàn bộ 2.000 tỷ đồng này để gửi ngân hàng lấy lãi, như một cách chiếm dụng ngân sách nhà nước. Nhưng trong thực tế, cứ thực nghiệm bản thành tích của VAMC chỉ xử lý được vài ba phần trăm số nợ xấu mua lại từ các ngân hàng thương mại, sẽ thấy triển vọng để khoảng một phần ba khối tổ chức tín dụng "một đi không trở lại" là rất cao trong vài năm tới. Nợ mới chồng nợ cũĐến nay, các phương án "xử lý nợ xấu" của Ngân hàng nhà nước vẫn hoàn toàn bế tắc. Toàn bộ mục tiêu "giảm nợ xấu về 3%" vẫn chỉ nằm trên giấy tờ mà không có một chút gì thực chất - theo nhiều chuyên gia phản biện. Hiển nhiên, việc các ngân hàng thương mại không thể giải quyết được nợ xấu đã khiến Ngân hàng nhà nước không thu được nợ và dĩ nhiên không thể bù đắp cho bầu sữa ngân sách đã bị các nhóm lợi ích xâu xé gần như cạn kiệt. Tình trạng nợ xấu tiếp tục dấn sâu vào vùng nguy hiểm đang là hiện tượng tiếp biến mà rất có thể sẽ làm cho nền kinh tế Việt Nam lao vào vùng phá sản trong ít năm tới - không khác mấy trường hợp của Argentina trong hai lần vào năm 2001 và năm 2014. Cho dù có tính toán một cách 'thành tích' nhất là cho đến nay các ngân hàng thương mại đã xử lý được khoảng 300.000 tỷ đồng 'nợ xấu nội bảng', thì vẫn còn đến khoảng 900.000 tỷ đồng nợ xấu treo trong hệ thống ngân hàng và trong bảng kế toán thuần giấy của VAMC mà không biết bán lại cho ai. Thậm chí, tỷ lệ nợ xấu đang tăng mạnh một cách không thể cưỡng lại, bắt nguồn từ con sóng đầu cơ bất động sản ở Sài Gòn và nhiều tỉnh thành ở Việt Nam vào hai năm 2017 và 2018. Trong năm 2017, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng 'nóng' đã lên đến 37%, cao gấp đôi mức tăng trưởng tín dụng bình quân là 18%, mà rất có thể số tín dụng này đã được tuồn cho giới đầu cơ bất động sản, tái hiện quy trình tín dụng - nợ - nợ xấu hậu giai đoạn giá bất động tăng gấp ba lần vào năm 2007. Không thể khác hơn, bóng ma phá sản đang hiện hình từng ngày là đáp số đích đáng nhất cho báo cáo "GDP Việt Nam tăng hơn 6%" của giới lãnh đạo trơn tuột trong cái nội các chính phủ đã trôi hơn nửa hết khóa, đang và sẽ đẩy nền kinh tế cùng xã hội Việt Nam vào một cơn khủng hoảng vô phương tránh thoát. N.C.D.Bài đã đăng trên VOA. Tác giả gửi BVN | ||||||
| Lập pháp Mỹ kêu gọi trừng phạt Trung Quốc Posted: 13 Sep 2018 01:17 PM PDT 13/09/2018 Thượng nghị sỹ Marco Rubio lên án Trung Quốc đàn áp ở Tân Cương Các lãnh đạo Cộng hòa trong một ủy ban phụ trách các vấn đề về Trung Quốc tại Quốc hội Mỹ hôm 12/9 kêu gọi chính quyền của Tổng thống Donald Trump mở rộng các lệnh trừng phạt đối với các quan chức Trung Quốc do sự đàn áp của Bắc Kinh đối với người Hồi giáo thiểu số ở Khu tự trị Tân Cương. Trong một lá thư hôm 12/9, Thượng nghị sỹ Marco Rubio, chủ tịch của Ủy ban Điều hành của Quốc hội Mỹ về Trung Quốc (CECC) và Dân biểu Chris Smith, đồng chủ tịch, đã yêu cầu Bộ trưởng Thương mại Wilbur Ross mở rộng danh sách các cơ quan của Trung Quốc bị cấm mua các thiết bị mà họ có thể dùng để giám sát người dân. "Do tính chất hoạt động trên khắp quốc gia của bộ máy an ninh của Trung Quốc, chúng tôi tin rằng cần phải mặc định từ chối bán bất cứ thiết bị hay công nghệ nào có thể có góp phần quan trọng và trực tiếp vào hệ thống giám sát và bắt giữ của công an (ở khu tự trị của người Uyghur tại Tân Cương)," hai ông Rubio và Smith viết trong thư. Hôm 11/9, Bộ Ngoại giao Mỹ đã bày tỏ quan ngại sâu sắc về tình trạng 'đàn áp ngày càng tồi tệ' của Trung Quốc đối với người Hồi giáo thiểu số ở Tân Cương trong lúc chính quyền Trump đang xem xét các biện pháp trừng phạt đối với các quan chức cấp cao và các công ty Trung Quốc có liên hệ đến các cáo buộc về vi phạm nhân quyền. Các cuộc thảo luận trong Chính phủ Mỹ về các biện pháp trừng phạt kinh tế khả dĩ để đáp trả lại thông tin về những vụ bắt giữ hàng loạt người Uyghur và những người Hồi giáo khác đang ngày càng nóng lên. Hành động này của Bắc Kinh đã khiến cộng đồng quốc tế lên án. Nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/lập-pháp-mỹ-kêu-gọi-trừng-phạt-trung-quốc/4569231.htmlĐọc thêm: 1. Trại cải tạo: Bắc Kinh chỉ «giáo dục» người Duy Ngô NhĩThụy MyLực lượng an ninh Trung Quốc được tăng cường tại Tân Cương, tháng 2/2017. VCG/VCG via Getty Images Một quan chức cao cấp Trung Quốc hôm nay 13/09/2018 khẳng định, chính quyền Bắc Kinh không bức hại người Hồi Giáo ở Tân Cương, mà chỉ «giáo dục» họ để tránh lan truyền các ý tưởng cực đoan, trong lúc các nước châu Âu thất bại trong lãnh vực này. Đáp trả cáo buộc của Liên Hiệp Quốc theo đó có ít nhất một triệu người thiểu số Duy Ngô Nhĩ theo đạo Hồi ở Tân Cương bị giam giữ trong những nhà tù và trại cải tạo, ông Li Xiaojun, giám đốc thông tin của bộ phận phụ trách nhân quyền thuộc Quốc vụ viện Trung Quốc khẳng định: «Đó không phải là đối xử tệ hại». Theo ông, «Trung Quốc chỉ thiết lập các trung tâm đào tạo chuyên nghiệp, các trung tâm giáo dục». Quan chức này nhấn mạnh: «Tuy quý vị không coi đó là cách tốt nhất, nhưng đây có lẽ là câu trả lời cần thiết cho Hồi Giáo cực đoan, bởi vì phương Tây đã thất bại trong việc kiểm soát xu hướng này (…) Hãy nhìn sang nước Bỉ hay Paris, nhìn sang các nước châu Âu khác mà xem. Quý vị đã thất bại». Cao Ủy Nhân Quyền, bà Michelle Bachelet hôm thứ Hai 10/9 đã kêu gọi Bắc Kinh cho phép Liên Hiệp Quốc gởi các quan sát viên đến Trung Quốc để kiểm tra những thông tin về các trại cải tạo người Duy Ngô Nhĩ, gây giận dữ cho chính quyền Trung Quốc. Nguồn: http://vi.rfi.fr/chau-a/20180913-trai-cai-tao-bac-kinh-chi-«-giao-duc-»-nguoi-duy-ngo-nhi2.LHQ: Trung Quốc giữ hàng triệu người Duy Ngô Nhĩ trong các trại bí mậtXuân Thành 11/08/2018Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc tại Geneva, Thụy Sĩ hôm thứ Sáu (10/8) cho biết họ đã nhận được nhiều báo cáo đáng tin cậy chỉ ra rằng khoảng 1 triệu người dân tộc Duy Ngô Nhĩ tại Trung Quốc đang bị giữ trong những nơi giống như "trại giam khổng lồ được che đậy bí mật". Cảnh sát tuần tra bên ngoài đền thờ Id Kah, ở thành phố cổ Kashgar, Khu tự trị Tân Cương vào ngày 22/3/2017. (Ảnh qua Reuters) Phát biểu trong ngày đầu tiên của cuộc họp thường xuyên hai ngày đánh giá về hồ sơ nhân quyền Trung Quốc, bao gồm cả Hồng Kông và Macao, bà Gay McDougall – thành viên của Ủy ban về Xóa bỏ Phân biệt Chủng tộc đã dẫn các báo cáo ước tính rằng 2 triệu người Duy Ngô Nhĩ và các cộng đồng thiểu số Hồi giáo khác ở khu tự trị Tân Cương, miền tây Trung Quốc đã bị ép vào "các trại chính trị để giáo dục tuyên truyền". Bà Gay McDougall cho hay: "Chúng tôi rất quan tâm đến nhiều báo cáo đáng tin cậy mà chúng tôi đã nhận được chỉ ra rằng nhân danh cuộc chiến chống chủ nghĩa cực đoan tôn giáo và duy trì ổn định xã hội, [nhà cầm quyền] Trung Quốc đã biến khu tự trị Tân Cương thành một cái gì đó giống như một trại giam giữ khổng lồ được che đậy bí mật, một kiểu 'khu vực không có nhân quyền'". Trước nay, các nhà chức trách Trung Quốc luôn nói rằng Tân Cương phải đối mặt với mối đe dọa nghiêm trọng từ các phần tử Hồi giáo và những kẻ ly khai có âm mưu tấn công và khuấy động mâu thuẫn giữa hầu hết thiểu số người Duy Ngô Nhĩ – những người gọi khu vực này là nhà của họ với đa số người Hán. Theo Reuters, trong cuộc họp của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc lần này, Trung Quốc cũng cử phái đoàn tham dự với khoảng 50 quan chức. Tuy nhiên, đoàn Trung Quốc không đưa ra bình luận về những phát biểu của bà Gay McDougall. Trong khi đó, phái bộ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc đã đăng lên Twitter nói rằng "những báo cáo về cuộc đàn áp đang tiếp diễn đối với người Duy Ngô Nhĩ và người Hồi giáo khác tại Trung Quốc cho thấy vấn đề rất nghiêm trọng" và phía Mỹ nhấn mạnh: "Chúng tôi kêu gọi Trung Quốc hãy chấm dứt những chính sách phản tác dụng của họ và hãy thả tự do cho tất cả những người dân đã bị bắt giữ tùy tiện". Theo Reuters, những cáo buộc về Trung Quốc vi phạm nhân quyền nêu trên đến từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có nhóm hoạt động "Những người bảo vệ Nhân quyền Trung Quốc". Nhóm này vào tháng trước đã có báo cáo cho biết 21% những vụ bắt giữ được ghi nhận tại Trung Quốc năm 2017 là xảy ra ở Tân Cương. Trước đó, ông Yu Jianhua – Đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc ở Geneva nói rằng chế độ Bắc Kinh đang làm việc hướng tới bình đẳng và đoàn kết tất cả các nhóm sắc tộc. Tuy nhiên, bà McDougall cho rằng những thành viên của cộng đồng người Duy Ngô Nhĩ và người Hồi giáo khác tại Trung Quốc đang bị đối xử như "kẻ thù của nhà nước" chỉ vì họ có nền tảng bản sắc tôn giáo của họ. Bà McDougall thông tin thêm rằng có hơn 100 sinh viên người Duy Ngô Nhĩ trở về Trung Quốc sau khi học tập tại nước ngoài như Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ đã bị bắt giam, và một số thậm chí đã bị chết trong các trại giam giữ. Fatima-Binta Dah, một thành viên khác của Hội đồng Nhân quyền đề cập tới "việc bắt giữ hàng loạt và tùy tiện gần 1 triệu người Duy Ngô Nhĩ" và đã đặt câu hỏi cho phái đoàn Trung Quốc rằng: "Mức độ tự do tôn giáo hiện có cho người Duy Ngô Nhĩ ở Trung Quốc là gì, bảo vệ pháp lý tồn tại cho họ để thực hành tôn giáo là gì?" Ngoài ra, trong cuộc họp hôm thứ Sáu (10/8), các thành viên Hội đồng Nhân quyền cũng dấy lên các báo cáo về vấn đề người Tây Tạng tại Trung Quốc đang bị ngược đãi, trong đó có việc không sử dụng đầy đủ ngôn ngữ Tây Tạng trong trường học và các thủ tục tại tòa án. Reuters cho biết cuộc họp của Hội đồng Nhân quyền đánh giá hồ sơ nhân quyền Trung Quốc sẽ còn tiếp diễn vào ngày thứ Hai (13/8). X.T. Nguồn: https://trithucvn.net/the-gioi/lhq-trung-quoc-giu-hang-trieu-nguoi-duy-ngo-nhi-trong-cac-trai-bi-mat.html 3. Người Duy Ngô Nhĩ ở Trung Quốc: Như bầy cừu chờ bị thịt
"Có hàng đoàn xe tăng trên đường, cứ 100 mét lại có một lô cốt cảnh sát, cảnh sát quét chứng minh thư của mọi người và cả nội dung trên điện thoại của họ". Năm ngoái, khi Almas Nizamidin trở về Urumqi, thủ phủ của Tân Cương để tìm lại vợ mình bị nhà cầm quyền Trung Quốc bắt giam mà không qua xét xử, anh đã không thể nhận ra thành phố nơi mình từng lớn lên. Anh Almas Nizamidin, 27 tuổi, kêu gọi chính phủ Úc giúp giải cứu vợ và mẹ của mình đang bị giam cầm trong trại cải tạo tại Tân Cương, Trung Quốc (Ảnh: ABC News) Almas rời Trung Quốc năm 2009 và trở thành công dân Úc từ năm 2014. Anh đã bay về Tân Cương trong năm 2017 ngay sau khi nghe tin vợ mình bị cảnh sát thường phục của chính quyền bắt giữ. Trong một bài phỏng vấn với ABC News, anh nói những gì mình chứng kiến tại quê hương đã làm anh bị sốc: "Có hàng đoàn xe tăng trên đường, cứ 100 mét lại có một lô cốt cảnh sát, cảnh sát quét chứng minh thư của mọi người và cả nội dung trên điện thoại của họ". "Nó giống như một cuộc chiếm đóng". Almas nói rằng vào tháng 3 năm 2017, vợ anh bị bắt để "cải tạo", nhưng sau đó lại bị tuyên án 7 năm – khi đó cô ấy đang mang bầu 2 tháng. Anh nói rằng tội của cô, theo nhà cầm quyền là "cực đoan tôn giáo", bởi vì cô từng học tập Hồi giáo ở Trung Đông. Cặp đôi vợ chồng này là người Duy Ngô Nhĩ, một nhóm sắc tộc nói tiếng Turk (Trung Quốc gọi là Đột Quyết) tại vùng tự trị Duy Ngô Nhĩ, Tân Cương. Hầu hết người Duy Ngô Nhĩ theo Đạo Hồi và Hồi giáo là một phần quan trọng trong văn hóa của dân tộc này. Nhưng hiện tại Bắc Kinh đang thúc đẩy chiến dịch "học tập cải tạo" mà nhiều nhà phê bình chỉ trích là nhằm "thanh tẩy sắc tộc" đối với những người Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ, vốn mang bản sắc khác biệt với người Hán và vẫn giữ được bản sắc của mình sau 3 thập kỷ. Theo các báo cáo gần đây của ủy ban đối ngoại Mỹ, từ đầu năm ngoái, ít nhất hàng trăm nghìn người, thậm chí có thể hơn 1 triệu người dân tộc thiểu số – phần lớn là người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương – đã bị bắt giam trong những trại cải tạo khổng lồ do Bắc Kinh lập ra. "Chiến dịch này là hoạt động bắt nhốt quy mô lớn đối với một dân tộc thiểu số trên thế giới ngày nay", một hội đồng của Mỹ về Trung Quốc kết luận hồi tháng 4. Nhiều người Duy Ngô Nhĩ đã tìm cách tới Úc để được phép tiếp tục tự do thực hành tín ngưỡng của mình. Hiện có một cộng đồng khoảng 3.000 người Duy Ngô Nhĩ, chủ yếu sống tại Adelaide, miền nam nước Úc. Trang ABC News của Úc đã phỏng vấn khoảng 20 người Duy Ngô Nhĩ, trong đó hầu hết đều có người nhà hoặc bạn bè bị bắt tại Trung Quốc. Nhiều người từ chối trả lời câu hỏi bởi lo sợ những lời của họ có thể khiến người nhà ở Trung Quốc phải trả giá. "Hãy hỏi Almas, anh ấy đã mất hết tất cả, vì thế anh ta nói được", một người Duy Ngô Nhĩ tại Melbourne nói với đài ABC. Bắt nhốt hàng loạt, Chủ nghĩa Xã hội Trung Quốc tiến vào "thời kỳ mới" Nhà cầm quyền Bắc Kinh gần như luôn từ chối trả lời các câu hỏi liên quan tới vấn đề nhân quyền của người Duy Ngô Nhĩ. Gần đây Bộ Ngoại giao Trung Quốc có nói với phóng viên rằng Bắc Kinh "không biết có tình trạng này" đồng thời khẳng định họ bảo vệ quyền của người ngoại quốc, ám chỉ những người Duy Ngô Nhĩ đã có hộ chiếu Úc quay về quê hương để tìm cách giúp đỡ thân nhân. Theo đài ABC của Úc, số lượng bị giam giữ trong "các trại cải tạo" xấp xỉ 10% dân số của toàn bộ người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương. Trong các trại cải tạo, họ bị bắt phải thề từ bỏ tôn giáo của mình, hô vang khẩu hiệu của ĐCSTQ, xem các video tuyên truyền của ĐCSTQ và thề trung thành với Đảng trong tình trạng chen chúc từ các ô giam quá đông của các nhà tù được lập lên trên khắp Tân Cương. Từ những năm 1990, Trung Quốc đã bắt đầu cuộc đàn áp đối với dân tộc Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương sau khi dân tộc này lên tiếng đòi độc lập.Trong vòng 3 thập kỷ qua, đã có vô số các báo cáo về đàn áp tự do tôn giáo và phân biệt đối xử đối với cộng đồng người Hồi giáo ở đây, tuy nhiên chiến lược "bắt nhốt cải tạo quy mô lớn" mới được tiến hành từ năm 2017, trùng hợp với tuyên bố của Bắc Kinh rằng Chủ nghĩa xã hội tại Trung Quốc đang tiến nhập vào "thời kỳ mới", theo giảng viên môn lịch sử Trung Quốc hiện đại David Brophy tại Đại học Sydney. "Sự hiện diện của một cộng đồng thiểu số lớn, bất mãn [với chính quyền] đơn giản là không phù hợp với tầm nhìn của Bắc Kinh về một quốc gia đoàn kết nhằm hiện thực hóa cái mà ông Tập Cận Bình gọi là "Giấc mộng Trung Hoa"", tiến sĩ Brophy nói. Tổ chức Giám sát Nhân quyền cho rằng nỗ lực của Bắc Kinh, lấy lý do dập tắt "ảnh hưởng từ bên ngoài" và "chủ nghĩa cực đoan tôn giáo", sử dụng công nghệ giám sát hàng loạt hiện đã tiến triển thành một chiến dịch rộng lớn và có toàn quyền nhắm tới bất kỳ cá nhân người Duy Ngô Nhĩ nào bị tình nghi là không trung thành với Đảng – tức là bất cứ người Duy Ngô Nhĩ nào dám bày tỏ bản sắc tôn giáo và văn hóa của mình, dù ôn hòa hay không. "Tại Tân Cương, là người Duy Ngô Nhĩ là phạm tội lớn, là người dân tộc thiểu số là có tội", anh Nizamidin nói. "Con người, giống như bầy cừu chờ bị làm thịt, đã mất hết hy vọng". Một số nội dung trong "các trại cải tạo" của Trung Quốc làm người ta nhớ lại thời kỳ Đại cách mạng văn hóa khiến hàng triệu người chết oan. "Việc nhắm tới sắc tộc và tôn giáo của toàn bộ một cộng đồng dân tộc và áp dụng bắt nhốt cải tạo hàng loạt làm dội lại một thời kỳ quá khứ vô cùng đen tối", giáo sư sử học James Millward từ đại học Georgetown, Úc, nói. Đ.T.Nguồn: https://trithucvn.net/the-gioi/nguoi-duy-ngo-nhi-o-trung-quoc-nhu-bay-cuu-cho-bi-thit.html | ||||||
| BẢN DỊCH “NHẬT KÝ TRONG TÙ” - NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY Posted: 12 Sep 2018 10:02 PM PDT PGS. Đào Thái Tôn
TỪ TIỀN LỆ DỊCH LẠI "NHẬT KÝ TRONG TÙ" … 1. Bản gốc Ngục trung nhật ký hiện lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đánh số từ bài 1 đến 133. Nếu tính cả 4 câu thơ như lời Đề từ viết phía trên bức tranh minh họa hai cổ tay bị xích, là 134 bài. Nhưng vì bài số 100 chỉ có ba chữ "Liễu Châu ngục", nên tập thơ vẫn là 133 bài. Theo Nam Trân, ngày đó do có một số bài liên quan tới những người làm việc cho Tưởng Giới Thạch, dịch ra không tiện (1) nên năm 1960 đã để lại 20 bài, công bố 113 bài. Nếu tính cả bài Mới ra tù tập leo núi Tố Hữu đề nghị dịch thêm (2) vốn nằm ngoài tập thơ, thì bản in năm 1960 đã công bố 114 bài. 2. Vì thế, cuối năm 1977, một Tiểu ban chỉnh lý và bổ sung bản dịch Nhật ký trong tù của Viện được thành lập và đến năm 1983, lần đầu tiên đưa thêm được 13 trong 20 bài chưa công bố. Đến năm 1990 mới công bố được bản dịch trọn vẹn, kể cả bài Mới ra tù tập leo núi, gồm 134 bài. Phần bổ sung đã xong. Nhưng việc dịch lại phần dịch nghĩa, chỉnh lý một số câu chữ trong phần dịch thơ, thay thế một vài bài thơ dịch bằng bài dịch mới, hoặc dịch thêm một bản dịch khác (3) khi tác giả và dịch giả đều đã mất, là việc làm khá bất ngờ; bởi ai cũng biết rằng, để tỏ lòng thành kính đối với tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khẳng định chất lượng bản dịch Nhật ký trong tù, từ khi công bố (1960), bản dịch không mang danh nghĩa cá nhân mà mang danh nghĩa VIỆN VĂN HỌC. Nam Trân rất thanh thản về điều đó. Có lẽ Chế Lan Viên là người đầu tiên khẳng định công lao của Nam Trân. Trong bài Nhớ tiếc Nam Trân (4), Chế Lan Viên viết: "Chỉ một việc anh dịch xong tập thơ của Bác, Anh đã coi là có thể làm xong nhiệm vụ của Cách mạng. Nếu anh rất vinh dự được Cách mạng giao cho công tác ấy thì hàng triệu độc giả cũng cảm ơn Anh vì nhờ Anh, họ đã thưởng thức được Nhật ký trong tù". Lý do việc dịch lại, đã được Viện Văn học cho biết, là: Trong 30 năm qua, bạn đọc từ nhiều miền của Tổ quốc đã gửi về những bản góp ý cụ thể, tỉ mỉ về chất lượng bản dịch. Báo chí cũng từng trao đổi nhiều xung quanh vấn đề đó nên năm 1977 một Tiểu ban đã chính thức được thành lập để chỉnh lý bản dịch. Vậy chúng ta hãy cùng nhau xem lại những góp ý qua các thời kỳ: Năm 1961. Ngay khi bản dịch mới ra đời, bên cạnh nhiều thư từ gửi đến Viện Văn học hoan nghênh, Nam Trân cũng "nghe được nhiều tiếng chuông rất khác nhau". Vì thế, trên Tạp chí Văn học số 9/1961, khi viết bài cảm ơn thịnh tình của bạn đọc, ông không quên dẫn ra hai góp ý tiêu biểu để từ tốn thưa lại. Ông viết: - "Bà Hoàng Thị Liên, phát biểu: "Bản dịch của Viện rất hay nhưng tôi nghĩ rằng muốn phổ thông hóa các bài thơ đó thì phải dịch theo thể thơ lục bát mà dịch liên tiếp nhau thành một tập thơ kể chuyện". Nam Trân thưa: "Chúng tôi thấy đó là một sáng kiến xuất phát từ tinh thần phục vụ quảng đại quần chúng nhân dân. Song rất tiếc là sáng kiến đó không thực hiện được vì lẽ rằng chúng ta không thể kết lại thành một thiên tự sự những bài thơ có lối cấu tạo riêng biệt của nó". - "Bạn Hồ Lãng có ý kiến: "Kể thì đọc những câu thơ dịch, những ai dễ tính rất có thể khen là bay bướm mượt mà, nên thơ hơn nguyên tác thật. Song chính cái hay hơn này, nên bản dịch mới thật là đáng trách. Chúng ta cứ tưởng tượng như có một người nào đó xem tượng vạc đắp, rồi trông thấy mà đắp theo, nhưng lại gọt hết những nét gai gợn xù xì trên pho tượng cho mượt mà đi; hoặc họ xem tranh chấm phá, rồi vẽ theo nhưng lại tô những nét loang lổ xơ xác cho gọn lại; thì ta sẽ thấy việc làm của họ không những đã không nên khen mà còn phải phê bình là khác". Nam Trân thưa: "Trong bài này chúng tôi sẽ không đề cập tới những ý kiến liên quan đến các vấn đề lý luận (Thế nào là giữ phong cách của thơ trong bản dịch? Thế nào là không lệ thuộc quá mức vào nguyên tác?…). Vì lẽ rằng ý kiến của các bạn đã xác định những điều mà chúng tôi sẽ học tập được trong quá trình dịch tập thơ. Tuy nhiên, có một điểm cần phải nêu lên là chúng tôi không bao giờ quan niệm công tác dịch thơ như công tác bắt chước đắp lại một pho tượng hoặc vẽ lại một bức tranh. Trái lại, theo chúng tôi, người dịch thơ phải làm việc với óc sáng tạo, chí ít cũng có phần sáng tạo trong ngôn ngữ dân tộc. Sau khi tìm hiểu tâm cảnh, ý cảnh trong bài thơ, người dịch phải diễn đạt lại tinh thần của một tác phẩm nghệ thuật dưới một hình thức hoàn toàn thích hợp với nội dung. Đó là chỗ chúng tôi thấy có khác nhau với quan điểm trên đây của bạn Hồ Lãng. Hơn nữa, bút pháp trong thơ Hồ Chủ tịch có cái hoàn chỉnh đặc biệt của nó. Ấy là lối hoàn chỉnh mà người xưa gọi là thiên y vô phùng (áo trời không có đường may), tuyệt nhiên không phải là những nét xù xì gai gợn như trên một pho tượng nào. Điều khó dịch trong thơ Hồ Chủ tịch là thơ của Người đã vượt qua khỏi cái đỉnh cao nhất của thời kỳ điêu luyện và đã trở thành một nghệ thuật giản dị hầu như tự nhiên". Năm 1978. Xem lại biên bản cuộc họp cộng tác viên đầu năm 1978 "góp ý về những bản dịch" (5), thì thấy: Một là, đã gọi là góp ý thì phải góp từ khâu bản thảo. Đằng này ván đã đóng thuyền, sách đã in từ 1960 mà năm 1978 mới "góp ý", thì góp cho ai? Đây là cuộc họp phê bình bản dịch. Nhưng Nam Trân đã mất (1967), Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã đã mất (1969), trong khi bản dịch tập thơ đã đi sâu vào tâm thức quần chúng như một hiện tượng lịch sử, văn học lớn thì việc dịch lại như vậy, có nên chăng? Hai là, đọc biên bản, thấy nhiều người mang một số chữ trong câu thơ dịch để phê phán rằng dịch chưa sát với nghĩa chữ Hán của nguyên tác, thì là điều thật lạ lùng. Trong không khí như thế, khi Lê Trí Viễn nói "cái đích là phải đạt được những bản dịch khiến người ta quên nguyên bản. Đối với bản dịch thì khó hơn. Có khi người ta chấp nhận một bản dịch xa nguyên tác một chút, nhưng hay" thì, ý kiến của ông như lạc đề, không được ai chú ý. Nếu như vậy thì từ bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm đến những bài thơ tự dịch của Phạm Quý Thích, Nguyễn Khuyến, thậm chí là cả bản dịch Tân xuất ngục học đăng sơn (Mới ra tù tập leo núi) của T.Lan (6), của Nam Trân… cũng sẽ bị phê là những bản dịch "không sát với nguyên tác"! Có nhìn lại như thế mới thấy rằng người dịch thơ như người soạn món ăn mà người đọc chẳng khác nào thực khách. Nhưng nếu như năm 1961, Nam Trân đã trình bày cặn kẽ với thực khách về kỹ thuật bếp núc của người đầu bếp thì năm 1978 Viện Văn học lại quá tin theo góp ý của mọi người, lâm vào cảnh làm dâu trăm họ nên thế tất sẽ phát sinh lúng túng. Nhưng một khi cấp trên đã chủ trương như vậy, cấp dưới phải thực hiện. Tiểu ban đã thực hiện một cách nghiêm túc trên tinh thần phát huy truyền thống khoa học của Viện, lần lại hồ sơ, tìm thêm được ba trong 20 bài Nam Trân đã dịch chưa công bố để đưa thêm vào Nhật ký trong tù (bản dịch trọn vẹn) (7). Nhưng vì theo sát những góp ý của cộng tác viên, Tiểu ban đã hồn nhiên chỉnh lý cả phần dịch nghĩa lẫn phần dịch thơ, thậm chí dịch lại một số bài. Thế là những lúng túng bắt đầu hiện ra khi gặp những câu hỏi: a) Liệu có cần dịch lại cả phần dịch nghĩa và một số bài thơ Nam Trân đã dịch không? b) Những bài thơ được chỉnh lý hay thay bằng bản dịch khác, có chắc chắn là hay hơn bản dịch của Nam Trân không, khi bản dịch cũ của ông không còn để so sánh? c) Việc đưa thêm bản dịch để bạn đọc cân nhắc là không cần thiết. Vì sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh không hề đọc duyệt bản dịch nào khác, ngoài bản dịch năm 1960. Nghĩa là bản dịch đã đi vào lịch sử. Vả chăng Nam Trân cũng đã mất từ lâu; bản dịch của ông không phải nơi đưa thơ của người khác vào, để thi tài. Thế là, từ chỗ thành tâm thực hiện chủ trương cấp trên, những tưởng sẽ góp phần nâng cao hơn nữa bản dịch, Tiểu ban không thể ngờ rằng những lúng túng trên đây đã tạo tiền lệ cho một số người vì mục đích riêng bám vào. Từ đó, họ mượn cớ "dịch lại" Nhật ký trong tù, tha hồ tùy tiện sửa chữa, xóa bỏ những bản dịch thơ Nam Trân, đưa thêm những bản dịch khác. ĐẾN VIỆC NHÌN LẠI HAI BẢN "DỊCH LẠI" I. Ngay sau khi Viện Văn học lần đầu tiên công bố Nhật ký trong tù (bản dịch trọn vẹn), năm 1992, Giám đốc Nhà xuất bản Khoa học xã hội tự phong là Chủ tịch Hội đồng Biên tập Nhật ký trong tù, đã tập hợp một số người "dịch lại" bản dịch của Viện Văn học. Bản dịch được ghi trang trọng tại trang 5: "HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP NHẬT KÝ TRONG TÙ Chủ tịch NGUYỄN ĐỨC DIỆU Các ủy viên: TRẦN LÊ VĂN – TRỊNH NHU NAM SƠN – CHÂU QUANG THÉP PHẠM NGỌC HY (Thường trực) Và trang 6: Khảo văn bản, phiên âm và chú giải: GS. NGUYỄN SĨ LÂM Dịch thơ: VIỆN VĂN HỌC (NXB VĂN HỌC, 1983) GS. NGUYỄN SĨ LÂM TRẦN ĐẮC THỌ – KHƯƠNG HỮU DỤNG TÔ LÂN – NGUYỄN MỸ TÀI PHAN TRỌNG BÌNH – HOÀNG NGÂN Bản dịch tiếng Anh ĐẶNG THẾ BÍNH – NGUYỄN VĂN SỸ" Cuốn sách cũng dịch trọn vẹn 133 bài như bản năm 1990 của Viện Văn học, nhưng xóa bỏ hơn ba phần tư số bài thơ dịch của Nam Trân, thay bằng bản dịch khác. Lời Nhà xuất bản và Hội đồng Biên tập Nhật ký trong tù nói về việc cho ra đời cuốn sách, như sau: "Nhật ký trong tù được Viện Văn học biên dịch và công bố từ năm 1960, rồi qua những lần chỉnh lý, bổ sung, tái bản (1977, 1980, 1983, 1990), đến nay đã tròn 30 năm, và đó là sự đóng góp kịp thời, to lớn đối với bạn đọc trong nước cũng như ngoài nước. Tuy nhiên, nhân dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Khoa học xã hội công bố thêm một bản dịch Nhật ký trong tù với hy vọng cùng bản dịch của Viện Văn học tạo thành một cộng hưởng nhằm phục vụ bạn đọc có hiệu quả hơn, sâu rộng hơn, ghi dấu những ngày sôi động, thiêng liêng mà toàn dân ta đang cùng nhân dân thế giới tưởng niệm công lao to lớn của Người" (tr.7). Cuốn sách ra đời nhằm kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1990) mà đến 1992 mới in xong là điều đáng tiếc. Nhưng điều đáng chú ý là bản dịch này chỉ giữ lại 35 bài của Nam Trân (gọi là bản dịch Viện Văn học). Trong khi đó, Nguyễn Sĩ Lâm có 47 bài; Trần Đắc Thọ, 33 bài; Hoàng Ngân, 5 bài; Khương Hữu Dụng, 2 bài (bài 26, 109); Phan Trọng Bình, 2 bài (bài 95, 107); Nguyễn Mỹ Tài, 2 bài (bài 56, 76); Tô Lân, 1 bài, v.v. Cuốn sách cho biết, đã dịch "theo nguyên bản Ngục trung nhật ký lưu trữ tại Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam" (trang 168). Nhưng điều này không có gì mới, vì năm 1960 Viện Văn học cũng dịch từ bản gốc này và khi gặp một vài chữ băn khoăn, đã xin ý kiến Hồ Chủ tịch. Năm 1990 Viện lại đã trình bày cụ thể từng trường hợp chữ nghĩa so với bản 1960. Bản 1992 [của NXB Khoa học xã hội] cũng khảo văn bản, nhắc lại những chữ nghĩa bản 1990 [của Viện Văn học] đã trình bày; nhưng đến khi đưa thêm một số trường hợp thì lại khảo đính cả những bài mà năm 1960 Viện Văn học chưa công bố để nói rằng công bố sai (như bài 87, 88 Ký Nê Lỗ – Gửi Nêru). Và có trường hợp còn khảo không đúng (8). Về chất lượng các bản dịch thơ ở bản 1992, nếu ai đã đọc bài phê bình của Vũ Ngọc Khánh, chắc không muốn nói gì thêm (9). Nhưng bản 1992 đã sinh thêm tiền lệ mới: ghi tên dịch giả dưới mỗi bài thơ. Thế là, con gà tức nhau tiếng gáy, có lẽ Tiểu ban Viện Văn học nghĩ rằng, năm 1990 khi công bố bản dịch trọn vẹn, chúng ta không đưa tên người dịch dưới mỗi bài thơ mà chỉ trân trọng đưa tên Nam Trân như linh hồn của bản dịch, kèm theo danh sách Tiểu ban (10). Thế mà nay, Nhà xuất bản Khoa học xã hội lại nêu tên 8 dịch giả. Vậy thì tội gì ta không nêu. Thế là, khi cho in lại bản dịch trọn vẹn [năm 1993], Tiếu ban bèn trương ra một danh sách 15 người: "Dịch thơ NAM TRÂN VĂN TRỰC – VĂN PHỤNG – KHƯƠNG HỮU DỤNG – T.LAN – HUỆ CHI – BĂNG THANH – ĐỖ VĂN HỶ – HOÀNG TRUNG THÔNG – XUÂN THỦY – XUÂN DIỆU – TRẦN ĐẮC THỌ – VŨ HUY ĐỘNG – NGUYỄN SĨ LÂM – HOÀNG NGÂN – NGUYỄN BÁU – HẢI NHƯ". So với bản in 1960, từ chỗ 114 bài trong bản 1960, đến bản in trọn vẹn lần này (11), Nam Trân đã bị thay thế 17 bài trong đó có 8 bài ký tên Văn Trực – Văn Phụng, bút danh của Phạm Văn Bình. Chúng tôi ngờ rằng có sự nhân nhượng. Vậy xin trình bày: Đầu năm 1978, tại cuộc họp cộng tác viên Viện Văn học, có người cho rằng ông Phạm Văn Bình là người đầu tiên có công dịch toàn bộ Nhật ký trong tù. Đến năm 2000, có người đã khai thác việc này, viết mập mờ (12). Có phải đây là sức ép khiến Tiểu ban phải ghi tên Văn Trực – Văn Phụng là dịch giả 8 bài thơ trong bản dịch năm 1960 (?). Sở dĩ đặt ra câu hỏi này là vì, khi so bản lược dịch của ông Bình hiện còn lưu ở Viện (trong cột II bảng thống kê) với bài thơ dịch của Nam Trân (cột III) và bài được ghi tên ông Bình (cột IV), chúng tôi thấy những bài thơ ở cột III đã được đưa sang cột IV. Cụ thể là: - Bài thứ nhất và thứ hai, Học đánh cờ (1, 2) không phải bản lược dịch của ông Bình; Bài thứ ba, nói cho vui là chữa vài chữ trong bản cột III, đưa sang cột IV; Bài thứ bốn, năm, sáu bảy và tám (Học đánh cờ 3, Ghẻ, Nghe tiếng giã gạo, Giải đi Vũ Minh, Cột cây số) đều là các bản dịch của cột III, bị đưa sang cột IV. Hơn nữa, có bài ký tên Nam Trân, nhưng đã bị chữa so với bản năm 1960 (như bài Cảm tưởng đọc 'Thiên gia thi') (13). II. Tiền lệ sinh ra tiền lệ. Năm 2000 đã ra đời cuốn sách "dịch lại" tất cả những gì người ta đã dịch lại. Đó là cuốn sách của Trung tâm Nghiên cứu Quốc học. Tận thu kết quả từ các cuốn sách mà nhiều người đã làm từ năm 1990, năm 2000 Trần Đắc Thọ đứng tên "dịch lại" Nhật ký trong tù (14). Sách gồm 3 phần : I. Nhật ký trong tù. II. Những bài thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết từ năm 1940. III. Những bài thơ tiếng Việt. Trang 4 cuốn sách ghi 20 dịch giả: "DỊCH THƠ: NAM TRÂN – QUÁCH TẤN – TỐ HỮU – TRẦN ĐẮC THỌ – VĂN TRỰC – VĂN PHỤNG – BẢO ĐỊNH GIANG – HOÀNG TRUNG THÔNG – XUÂN DIỆU – HUY CẬN – ĐỖ VĂN HỶ – PHAN VĂN CÁC – NGUYỄN SĨ LÂM – HOÀNG ĐĨNH – NAM SƠN – KHƯƠNG HỮU DỤNG – NGUYỄN MỸ TÀI – HẢI NHƯ – MAI QUỐC LIÊN – NGUYỄN QUẢNG TUÂN". Trang 5 ghi: "Dịch nghĩa, chú thích, hiệu đính văn bản TRẦN ĐẮC THỌ Nhuận chính và tuyển thơ MAI QUỐC LIÊN Bản dịch mới, tư liệu mới Lần đầu tiên in kèm toàn văn thủ bút chữ Hán "Ngục trung nhật ký" của Chủ tịch Hồ Chí Minh" Nhưng sau khi xem kỹ, cuốn sách có 4 điều chưa rõ ràng: Trước hết, Nhật ký trong tù là một tác phẩm độc lập, vì thế, các dịch giả tại Phần I và Phần II cuốn sách phải ghi tách biệt, không thể đề tên một lèo 20 người dịch như vậy. Theo đó, Huy Cận, Mai Quốc Liên, Phan Văn Các, Tố Hữu, T. Lan thuộc danh sách những người dịch Phần II (Thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh từ năm 1940) – trong đó, Mai Quốc Liên chỉ dịch 1 bài, là bài Phỏng Khúc Phụ. Thực ra bài này do Đặng Thai Mai dịch nhưng Mai Quốc Liên đã xóa đi, thay bằng bản dịch của Quách Tấn, kèm theo bản dịch của ông và Trần Đắc Thọ. Vậy xin ghi lại đây bản dịch của Đặng Thai Mai được Phan Văn Các sưu tầm trong Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (NXB. Văn học, H, 1990) (15) và bản dịch của cả ba ông. Sau nữa, Phần I cuốn sách đã mang tên Trần Đắc Thọ. Vậy ai chịu trách nhiệm Phần II và Phần III? Sao không nói rõ? Đến đây, xin xét từng Phần I, II, III của cuốn sách. Phần I, "Nhật ký trong tù". Bản dịch Nhật ký trong tù tại Phần I có phải là bản dịch mới, tư liệu mới? Việc hiệu đính văn bản thế nào? Bản chụp thủ bút chữ Hán Ngục trung nhật ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh có phải là văn bản trung thành với bản gốc không? 1. "Bản dịch mới" thì đúng rồi. Vì cứ theo tiền lệ, nhóm Mai Quốc Liên tha hồ "dịch lại" bản năm 1960 của Nam Trân, bản năm 1990 Viện Văn học đã dịch lại Nam Trân và cả bản năm 1992 [NXB KHXH] đã dịch lại hai bản trên. Nghĩa là dịch lại tất cả những bản đã dịch đi dịch lại. Tiền lệ đã có. Cứ thế mà làm. 2. Nhật ký trong tù tại Phần I cuốn sách có tư liệu mới không? Không. Đó chỉ là bí mật "kế thừa" các cuốn sách người khác đã làm từ 1990. Cụ thể là: 2.1. Đã đọc rất kỹ Nhật ký trong tù (bản dịch trọn vẹn) của Viện Văn học. Bằng chứng là, trong việc ghi tên người dịch dưới mỗi bài thơ, bản Viện Văn học là bản lần đầu tiên ghi tên Văn Trực-Văn Phụng, lần đầu tiên ghi tên hai người dịch chung bài thơ 4 câu Đến Quế Lâm – là Xuân Diệu và Đỗ Văn Hỷ. Vậy chắc chắn là phải đọc rất kỹ bản của Viện Văn học, thì nhóm Mai Quốc Liên mới có cứ liệu đề tên người dịch trong các bài thơ này (16). 2.2. Đọc rất kỹ bản 1992 của Nhà xuất bản Khoa học xã hội. Bằng chứng là, bản 1990 của Viện Văn học và bản 1992 của Nhà xuất bản Khoa học xã hội đều đã khảo đính văn bản. Nhóm Mai Quốc Liên đã hiệu đính đúng vào những chỗ mà hai bản đã khảo trước đó hàng chục năm; hơn nữa, lại thấy xuất hiện bút danh Nam Sơn trong bài Tù cờ bạc (trong khi Nam Sơn là bút danh lần đầu xuất hiện với danh nghĩa người khảo chứng văn bản tại bản 1992, trang 176; người dịch thơ bài Tù cờ bạctrong bản này, ghi là: Theo Nguyễn Sĩ Lâm). 2.3. Còn như nói rằng bản mang tên Trần Đắc Thọ đã "dịch nghĩa, chú thích, hiệu đính văn bản" cũng không đúng. Vì cả ba công việc này Nam Trân và các học trò của ông ở Viện đã làm từ năm 1960 đến 1990. Thế nhưng, để in cho được cuốn sách do Trần Đắc Thọ đứng tên với hiện trạng "kế thừa" như ta đã thấy trên đây, Mai Quốc Liên viết: "Cụ Trần Đắc Thọ năm nay đã ngoài 80 tuổi, là một người hoạt động chính trị – xã hội chuyên nghiệp. Vì yêu thích thơ ca, Hán học và đặc biệt ngưỡng mộ thơ Hồ Chí Minh, cụ đã dành thời gian cuối đời sưu tầm tư liệu, chỉnh lý, chú thích thơ Hồ Chí Minh trên thành tựu của nhiều nhà nghiên cứu đi trước. Phải mất rất nhiều thời gian và công phu, cụ mới hoàn thành được bản dịch nghĩa (và bản dịch thơ) mới. Nhưng công trình của Cụ hẳn đã không tránh khỏi vài ý kiến và thao tác chưa được nhuần nhị, bên cạnh những phần đóng góp quý báu, có ý nghĩa trong việc hoàn thiện một bản dịch xứng đáng với nguyên tác" (Tr.14. Sđd). Thật mập mờ. Nghiên cứu văn học cũng là hoạt động chính trị – xã hội. Không nói nghề nghiệp cụ thể của ông Trần Đắc Thọ là gì mà chỉ nói về cuối đời, vì yêu thích thơ ca, Hán học và ngưỡng mộ thơ Hồ Chí Minh mà dịch Nhật ký trong tù thì khác gì Mai Quốc Liên xác nhận ông Thọ chỉ là người nghiên cứu nghiệp dư? Chính vì thế mà Mai Quốc Liên đã phải "gia công sửa chữa, hiệu chỉnh, để cố gắng đảm bảo tính chính xác" (Tr.14. Sđd), nghĩa là không có ông, bản thảo của Trần Đắc Thọ khó mà in được. Việc nói chung chung rằng ông Thọ đã sưu tầm tư liệu, chỉnh lý, chú thích thơ Hồ Chí Minh trên thành tựu của nhiều nhà nghiên cứu đi trước, là một sự mập mờ. Bởi như chúng ta đã thấy thành tựu của những người đi trước là hai cuốn sách trên đây nhưng đã bị nhóm Mai Quốc Liên giấu biệt nguồn tài liệu. Việc làm đó là vi phạm nguyên tắc khoa học. Đó cũng là sự không trung thực, không thể chấp nhận được. Vì thế khi Mai Quốc Liên viết rằng, bản dịch Nhật ký trong tù của các ông có "những đóng góp quý báu, có ý nghĩa trong việc hoàn thiện một bản dịch xứng đáng với nguyên tác" cũng là điều mập mờ, không hề chứng minh. Để in được cuốn sách này, Mai Quốc Liên đã xóa bỏ 22 bài thơ của Nam Trân, mặc dù cách đây 10 năm, ông đã hết lời ca ngợi thầy mình, "bản dịch Nhật ký trong tù của ông chuyển đạt hồn thơ, tình điệu của nguyên tác một cách xuôi chảy như chính ông sáng tác nó ra vậy. Đó là một sự nhập thần tinh diệu, một đỉnh cao và một kiểu mẫu của việc dịch thơ. Nó được người ta ngâm đọc, trích dẫn mà ít khi cần đến chữ Hán bên cạnh. Đó là công lao to lớn của Nam Trân" (17). Nhưng, tuy có tên trong 29 bài dịch, Trần Đắc Thọ cũng chỉ thay Nam Trân được 7 bài; Quách Tấn tuy có tên trong 68 bài, nhưng chỉ thay được 8 trong số 22 bài Nam Trân bị xóa. Các bài còn lại, vẫn phải đứng ké bên cạnh bản dịch của Nam Trân. Để in 68 bài thơ của Quách Tấn, Mai Quốc Liên viết: "Quách Tấn với Nam Trân, Chế Lan Viên… vốn là bạn thơ thời Thơ Mới và là một người dịch thơ chữ Hán rất sành điệu… Chúng tôi trân trọng bản dịch của một nhà thơ phương Nam như thế, và đã chọn ở đây những bài thơ đạt nhất bên cạnh các bản dịch của nhiều nhà thơ khác"… Rất sành điệu hay không, bạn đọc sẽ nhận xét. Còn như, khi đất nước đã thống nhất 25 năm rồi, thì trong văn học đừng nên phân vùng Nam, Bắc. Vả chăng, Quách Tấn là người miền Nam (quê Bình Định) thì Nam Trân cũng là người miền Nam (quê Quảng Nam) lại là cán bộ miền Nam tập kết có nhiều đóng góp cho văn học nước nhà. Vì thế thiết nghĩ, chả cần nhắc đến vùng miền làm gì. Miễn là dịch cho thật "sành điệu". 3. Cuốn sách còn được giới thiệu đây là "lần đầu tiên in kèm toàn văn thủ bút chữ Hán Ngục trung nhật ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh". Nhưng khi thấy bản chụp in kèm cuốn sách không nêu nguồn tư liệu, lại đã bị lắp ghép, tẩy xóa, chúng tôi cho rằng người làm sách đã chữa bản gốc nhằm bưng bít thông tin để giả vờ nghiên cứu văn bản học. Hai bài viết hàm hồ của Trần Đắc Thọ tại cuốn sách (Tr. 475-486) là bằng chứng của việc làm này. Tại hai bài viết, Trần Đắc Thọ đã gieo rắc sự hoài nghi không đáng có, là Bác Hồ đã nhờ ai đó chép lại Nhật ký trong tù. Sau khi tung ra nghi ngờ đó, ông khoe công đã nghiên cứu văn bản học để chứng minh rằng đây là bản do Bác Hồ "chép lại "! Điều kỳ lạ hơn là, ngay sau đó ông lại nói rằng bản Bác Hồ chép lại này, chỉ là "á bản", không phải là chính bản. Những ai từng để ý đến luận điệu của Lê Hữu Mục về Nhật ký trong tù (18) hẳn phải nhận rằng những điều hồ đồ trong cuốn sách này đã đụng chạm tới vấn đề nghiêm trọng. Vì thế, chúng tôi xin có bài viết riêng. Phần II. Những bài thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết từ năm 1940, không ghi rõ do ai sưu tầm, biên soạn. Nhưng Mai Quốc Liên viết: "Những bài thơ chữ Hán Hồ Chí Minh làm ở Trung Quốc, hoặc xướng họa với các bạn bè Trung Quốc, có một phong vị riêng. Gần năm chục bài thơ chữ Hán về đề tài này mới sưu tầm được, hé mở cho chúng ta thấy thêm những khía cạnh về con người Hồ Chí Minh… " thì, mấy dòng viết này có ba cái sai: Một là, những bài thơ chữ Hán ở Phần II, không phải chỉ là những bài thơ chữ Hán Hồ Chí Minh làm ở Trung Quốc, hoặc xướng họa với các bạn bè Trung Quốc mà có nhiều bài làm ở Việt Nam, xướng họa với cụ Bùi Bằng Đoàn, Điếu Bộ trưởng…, và nhiều đề tài khác. Muộn nhất là bài Mậu Thân xuân tiết (Tiết xuân Mậu Thân) viết ngày 14/4/1968. Hai là, Phần II không phải có gần năm chục bài mà chỉ có 36 bài. Ba là, 36 bài này không phải nhóm Mai Quốc Liên mới sưu tầm được mà chỉ việc chép lại từ cuốn Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh do Phan Văn Các sưu tầm, in năm 1990 (Sđd). Bằng chứng là, sách của Phan Văn Các để sót bài thơ rất quan trọng (Mới ra tù tập leo núi) nên khi chép theo Phan Văn Các để đưa vào Phần II cuốn sách, nói rằng "mới sưu tầm được", nhóm Mai Quốc Liên cũng bỏ mất bài này. Phần III. Những bài thơ tiếng Việt là phần duy nhất được ghi nguồn tài liệu: "Dựa theo Thơ Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản Nghệ An, 1998". Như thế đó, cuốn sách có ba phần, thì hai Phần I Nhật ký trong tù, lấy từ thành quả nghiên cứu của Viện Văn học, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội; Phần II Những bài thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết từ năm 1940 là lấy nguyên xi cuốn sách của Phan Văn Các. Duy có Phần III là được khai là "Dựa theo Thơ Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản Nghệ An, 1998" (Tr. 341). Hóa ra, làm TOÀN TẬP dễ thật: chỉ việc lấy những cuốn sách mọi người đã làm, giấu biệt tung tích đi rồi biến hóa một chút đưa in gộp cả lại, gọi là TOÀN TẬP! Nguyễn Du toàn tập, Hồ Chí Minh, thơ toàn tập của Trung tâm nghiên cứu Quốc học là thế. Mà ngay cả Nguyễn Trãi toàn tập năm 1967 các cụ đã in lần thứ hai rồi. Thế mà Mai Quốc Liên cũng "làm lại" toàn tập. Dễ thôi dễ thôi, thêm cho nó hai chữ, để thành Nguyễn Trãi toàn tập tân biên. Xong. Thế là xóa tên các cụ, ký tên người khác được ngay. LỜI KẾT 1. Từ khi Viện Văn học đề ra việc dịch lại Nhật ký trong tù, đã xuất hiện hàng mấy chục dịch giả mới. Chỉ điểm những người có số lượng từ hơn 20 bài dịch trở lên, sẽ thấy như sau: Quách Tấn, 68 bài; Nguyễn Sĩ Lâm, 47 bài; Trần Đắc Thọ 29 bài. Nhưng mọi người vẫn phải để những bài thơ dịch của mình đứng bên bản dịch Nam Trân, vì chưa ai dịch được cả 133 bài; vì không ké vào Nam Trân như vậy, các vị không có chỗ in được những bài thơ dịch của mình. Vậy tốt nhất, xin các vị hãy tập hợp tất cả các bản dịch của mình, sưu tầm thêm bản dịch của người khác, đưa in riêng. Chúng tôi biết rằng, mặc dù bản dịch của Nam Trân đã được thực hiện nghiêm túc, dưới một sự chỉ đạo chặt chẽ, đặc biệt đích thân tác giả cũng đã tham gia trong một chừng mực nào đó, ở một vài điểm cụ thể nào đó, nhưng những ai muốn, vẫn hoàn toàn có quyền dịch lại. Các kiệt tác của văn học thế giới luôn được dịch lại, miễn đó là những nỗ lực mới, trung thực và nhất là đều đánh dấu một bước tiến mới, dù nhỏ. Vì thế, ai cũng có quyền dịch đi dịch lại "Nhật ký trong tù" hay bất kỳ tác phẩm chữ Hán nào. Nhưng: Ai giỏi giang, xin dịch lại toàn bộ. Còn như chỉ sửa một đôi chữ, thì đàng hoàng nhất là phải giữ nguyên bản dịch trước và "chua" thêm ý điều chỉnh của mình xuống dưới, như phụ chú vào bản dịch cũ. Việc sửa một đôi chữ hoặc thậm chí là nhiều, vào bản dịch của người trước mà không được dịch giả đó đồng ý là điều không thể được. Việc ký thêm tên mình vào bản dịch cũ trong khi dịch giả đã khuất thì đương nhiên lại càng không được. Đã đến lúc phải chấm dứt tình trạng lấy cớ dịch lại Nhật ký trong tù, để dùng Nam Trân làm nền trong việc giới thiệu những "dịch giả" khác, làm biến dạng bản dịch lịch sử đã được Đặng Thai Mai, Tố Hữu đọc kỹ và cao nhất là đã được Bác Hồ đã phê duyệt. Vì thế, năm 1997 chúng tôi đã viết: "Gần bốn chục năm qua, bản dịch Nhật ký trong tù của Nam Trân đã in sâu vào tâm khảm nhiều thế hệ bạn đọc trong nước, trở thành một di vật lịch sử cần được tôn trọng. Hãy để bản dịch lịch sử đó vẹn nguyên câu chữ như khi nó chào đời, như gìn giữ một di vật trong Bảo tàng Hồ Chí Minh mà ở đó có tấm lòng thành kính say sưa của một nhà thơ, một nhân sĩ trí thức yêu nước đã dốc lòng mang sở học của mình để làm tròn nhiệm vụ của Cách mạng giao cho" (19). 2. Dịch phẩm Nhật ký trong tù là của tin sáng giá nhất của Nhà thơ Nam Trân. Gần nửa thế kỷ có lẽ là thời gian cần và đủ để chúng ta liên tưởng sự thành công của ông với sự thành công của Đoàn Thị Điểm trong việc chuyển từ chữ Hán trong nguyên tác của Đặng Trần Côn sang áng thơ Nôm Chinh phụ ngâm khúc. Nói như Lê Trí Viễn, thành công của Nam Trân là ở chỗ có "những bản dịch khiến người ta quên nguyên bản"; tuy còn dăm ba bài thơ dịch "xa nguyên tác một chút" theo cách nghĩ nào đó, nhưng người ta vẫn chấp nhận vì đó là bản dịch hay. 3. Chúng ta cần phải biết ơn những học giả bậc cha ông sinh ra vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX như Lê Thước, Trần Văn Giáp, Hoàng Xuân Hãn, Đào Duy Anh, Nam Trân, Trương Chính,… những người đã để lại những dịch phẩm, những công trình khảo cứu sáng giá góp phần đào tạo những người sinh ra vào khoảng những năm 30, đầu những năm 40 của thế kỷ XX trở thành đội ngũ sáu bảy mươi tuổi biết nghiên cứu hiện nay. Không thể quên được rằng, năm 1965 lớp người trên dưới hai mươi, ba mươi tuổi chúng tôi khi được Nhà nước cho học chữ Hán, thì trước mặt đã có những dịch phẩm Nhật ký trong tù (1960), Thơ chữ Hán Nguyễn Du (1965), Nguyễn Trãi toàn tập (1964/1965?), Vân đài loại ngữ (1961); Những công trình khảo cứu sáng giá La Sơn Phu tử (1950), Chinh phụ ngâm bị khảo (1952), Đất nước Việt Nam qua các đời (1962)… Nghĩa là hầu hết những tác phẩm lớn và khó trong văn học Việt Nam đã được các cụ thực hiện một cách vững vàng, xuất sắc. Đó là những công trình bậc thầy làm nên thế hệ chúng tôi. Cho nên, việc tôn trọng tuyệt đối dịch phẩm của các cụ không chỉ là vấn đề đạo đức, càng không phải là vấn đề vật chất vốn rất bèo bọt của bản quyền, mà trước hết là việc chắt chiu, tôn trọng, gìn giữ những thành quả của tiền nhân để xây dựng cái gốc cái nền của ngành nghiên cứu, dịch thuật vốn còn non trẻ của đất nước ta. Mãi đến năm 1959 chúng ta mới thành lập Viện Văn học. Muộn quá. Kim chỉ có đầu. Lĩnh vực nào cũng cần xây dựng truyền thống. Cha ông vừa xây cháu con đã phá thì thử hỏi bao giờ có được truyền thống mà dựa vào, lấy gì làm đất đứng chân. Việc khẳng định quyền tác giả của những dịch phẩm Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nguyễn Trãi toàn tập,Nhật ký trong tù… vì thế, còn là vấn đề thời sự trong việc lập lại kỷ cương trong tình hình xuất bản hiện nay, sao cho sớm ngăn chặn được tình trạng thu gom thành quả nghiên cứu của các bậc thầy và đồng nghiệp rồi chỉ việc bỏ tiền mua giấy phép in sách điềm nhiên ký tên mình? Chắc không chỉ ngành văn học mang nỗi đau này. Đ.T.T.
Chú thích: (1) Phan Ngọc: Câu chuyện tác giả "Ngục trung nhật ký", trong Suy nghĩ mới về "Nhật ký trong tù". NXB. Giáo dục, H, 1993, tr. 621. (2) Theo ghi chép của Nam Trân tại buổi làm việc với Tố Hữu từ 16 đến 18 giờ ngày 08/02 năm 1960, duyệt bản dịch lần cuối, hiện lưu tại Hồ sơ Viện Văn học. (3) Lời nói đầu Nhật ký trong tù, viết cho lần xuất bản thứ ba và thứ tư. NXB. Văn học, H, 1990, (tr. 12, 13). Lần thứ nhất do NXB. Văn học, H, 1983; Lần thứ hai, NXB. Văn nghệ TP. HCM, 1985; Lần thứ ba, NXB. Thông tin, H, 1989. (4) Chế Lan Viên: Nhớ tiếc Nam Trân. Tạp chí Văn học số 1/1968. (5) Do Viện trưởng Hoàng Trung Thông chủ trì. Thành phần dự họp, ngoài một số quần chúng ở vài ngành và địa phương (như Tô Lân – ĐH Sĩ quan công an, cụ Phạm Công Minh – Thái Bình, Đoàn Ngọc Phan – Nam Hà, Bùi Công Minh (Ban Văn hóa Văn nghệ thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương), Tô Hưng (?), thảy đều là những người có tên trong giới văn học: Nguyễn Sĩ Lâm, Hoàng Xuân Nhị, Đỗ Văn Hỷ, Lê Trí Viễn, Đinh Gia Khánh, Bùi Văn Nguyên, Khương Hữu Dụng, Đỗ Ngọc Toại… (6) Theo Vũ Ngọc Khánh, "trong cuốn Vừa đi đường vừa kể chuyện được xuất bản đúng 3 năm sau khi bản dịch Nhật ký trong tù ra mắt, T.Lan đã dịch lại bài này bằng thơ lục bát… Ta không có nhiều hiểu biết lắm về T.Lan, nhưng qua sách trên thì thấy đây là người gần tác giả bài thơ chữ Hán hơn chúng ta nhiều" (Suy nghĩ mới về "Nhật ký trong tù". Sđd, tr. 278); nên chúng tôi cho rằng có thể bản dịch của T. Lan có dụng ý riêng trong sự biểu đạt và có thể dịch giả có đặc quyền rộng hơn một dịch giả bình thường nên không thể nói chỗ này dịch không sát, chỗ kia thêm vào (ví dụ: bụi hồng, chạnh lòng nhớ ai hay Nam thiên trong nguyên tác lại dịch là cố quốc).
Nguyên tác: Vân ủng trùng sơn sơn ủng vân, Giang tâm như kính tĩnh vô trần. Bồi hồi độc bộ Tây-phong-lĩnh, Dao vọng Nam thiên ức cố nhân.
T.Lan dịch: Mây ôm núi núi ôm mây, Lòng sông sạch chẳng mảy may bụi hồng. Bùi ngùi dạo đỉnh Tây phong, Trông về cố quốc, chạnh lòng nhớ ai.
Nam Trân dịch: Núi ấp ôm mây, mây ấp núi, Lòng sông gương sáng, bụi không mờ. Bồi hồi dạo bước Tây-phong-lĩnh, Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa.
Nhưng năm 1978 tại cuộc họp cũng có ý kiến phê bình Nam Trân rằng, hai chữ bồi hồi: đi đi lại lại. Bản dịch vẫn để bồi hồi là mất ý của Bác, không có ý là dạ bồi hồi; Dao vọng: xa vọng. Dịch là trông lại, là mất ý. (8) NXB. Văn học, H, 1990. Kể cả bài Tân xuất ngục học đăng sơn (Mới ra tù tập leo núi), là 134 bài. (9) "Có những chỗ không hiểu sao đã tự ý chữa lại nguyên tác, như bài Tảo giải II (số 43), câu U ám tàn dư tảo nhất không đã bị "khảo" và "đính" thành câu U ám tàn dư nhất tảo không". Xin xem: Con đường đi đến một bản dịch trọn vẹn "Nhật ký trong tù" tương xứng với nguyên tác (trong Suy nghĩ mớivề "Nhật ký trong tù" (bản dịch trọn vẹn); NXB. Giáo dục in lần thứ năm, tr.284. (10) "Dịch chưa hẳn là việc làm sao cho đúng từng chữ từng câu, mà cái chính là phải hiểu đúng thực chất của nội dung, thực chất tinh thần của tác giả" Bản dịch nhiều bài dịch "quả là rất sát – sát một cách chi li, nhưng hình như đã không còn chất thơ, mà lối nói văn xuôi nghe cũng hóa ra ngồ ngộ". Xin xem: Con đường đi đến một bản dịch trọn vẹn «Nhật ký trong tù… » (trong Suy nghĩ mới về "Nhật ký trong tù"). Sđd, tr.276, 77. (11) "Người dịch: NAM TRÂN Phần bổ sung và chỉnh lý: NGUYỄN HUỆ CHI – TRẦN THỊ BĂNG THANH ĐỖ VĂN HỶ – HOÀNG TRUNG THÔNG" (13) Nhật ký trong tù (bản dịch trọn vẹn) trong Suy nghĩ mới về "Nhật ký trong tù". NXB. Giáo dục, H, 2003. Bản in lần thứ năm. (14) Trong bài Những điều chưa biết về "Nhật ký trong tù» cũng như quá trình dịch thơ "Ngục trung nhật ký" bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh của Trần Đắc Thọ (trong Hồ Chí Minh. Thơ toàn tập. NXB Văn học, H, 2004, tr. 480), sau khi viết: Viện Văn học "giao cho đồng chí Nam Trân cùng làm gấp với đồng chí Phạm Văn Bình để kịp sang năm 1960, có thể phát hành Nhật ký trong tù", và "khi sách in ra không thấy có tên mình, đồng chí Bình hỏi Nam Trân, thì Nam Trân nói có lẽ sơ suất tại Nhà xuất bản", Trần Đắc Thọ viết tiếp, "Công việc chấm dứt ở đó với nỗi niềm không mấy vui của đồng chí Phạm Văn Bình". Thực ra, hồ sơ lưu tại Viện Văn học cho thấy rằng, Viện không hề "giao cho đồng chí Nam Trân cùng làm gấp với đồng chí Phạm Văn Bình… ", mà chỉ có một mình Nam Trân dịch. Bản "lược dịch" thơ của ông Bình hiện lưu tại Viện và bút tích Nam Trân cho thấy, dù hết sức cố gắng sửa một số bài dịch ra thơ của ông Bình để đưa in, nhưng từ những câu thơ trong bản "lược dịch" của ông Bình đến những bài thơ Nam Trân công bố là một khoảng cách khá xa. Nam Trân đã ra sức chữa cho ông, nhưng không thể thổi hồn thơ vào những bản bẻ vần gọi là "lược dịch" ra "thơ" đó được. Mà Nam Trân cũng biết bản dịch sẽ ghi là bản dịch của VIỆN VĂN HỌC chứ không ghi tên cá nhân nên ông càng phải dịch cho tốt, tất cả là vì thơ của BÁC HỒ. Cho đến trước khi qua đời Nam Trân vẫn rất vui và tự hào về việc đó. Cho nên việc ông Phạm Văn Bình "không mấy vui" – nếu quả như Trần Đắc Thọ viết, không liên quan gì đến Nam Trân. Thực ra việc ông Phạm Văn Bình rất nhiệt tình và là người đầu tiên "lược dịch" Nhật ký trong tù là chuyện có thật và là điều dễ hiểu. Theo Trần Đắc Thọ, ông Phạm Văn Bình, là cán bộ giảng dạy về Cách mạng Việt Nam thời kỳ 1939-1945. Khi phát hiện ra tập Ngục trung nhật ký, ông "giao cho" Văn Phụng phiên âm, dịch nghĩa. Gặp chỗ nào ngờ, ông Bình hỏi cụ Phó bảng Bùi Kỷ rồi bẻ vần thành thơ, lấy bút danh Văn Trực – Văn Phụng để tri ân người dịch nghĩa giúp mình. Vậy có thể hình dung được chất thơ của bản "lược dịch" đó. Cũng theo Trần Đắc Thọ, ta có thể hình dung, khi biết việc dịch thơ của ông Bình, tuy không ngăn cản nhưng Tố Hữu biết ông Bình đang làm một việc quá sức; vì dịch thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải trông cậy vào một nhà thơ đồng thời là người tinh thông Hán học, chứ sao có thể yên tâm trông chờ vào bản dịch của người chỉ có lòng nhiệt tình, nghiệp dư như vậy được. Và chắc chắn Tố Hữu đã bàn với Đặng Thai Mai. Cho nên khi ông Bình vừa nộp bản "lược dịch", thì Tố Hữu cho ngay xe đến đón ông để bàn giao ngay nhiệm vụ cho Đặng Thai Mai và Hoài Thanh Viện trưởng, Viện phó Viện Văn học đang ngồi đợi. Về Viện, Đặng Thai Mai giao ngay cho Nam Trân. Công việc phải như vậy. (15) Xin xem PHỤ LỤC đính kèm bài viết [Phần phụ lục này chúng tôi chưa tìm thấy – Văn Việt]. (16) In tại phần I cuốn Hồ Chí Minh. Thơ toàn tập. Trung tâm Nghiên cứu Quốc học – NXB. Văn học, in lần thứ nhất tại NXB. Văn nghệ TP. HCM, 2000; Lần thứ hai tại NXB. Văn học, H, 2004. Chúng tôi theo bản 2004. (12) Nguyên văn:
Ngũ nguyệt thập cửu phỏng Khúc Phụ, Cổ tùng cổ miếu lưỡng y hy. Khổng gia thế lực kim hà tại? Chỉ thặng tà dương chiếu cổ bi Đăng Thai Mai dịch: Mười chín tháng Năm thăm Khúc Phụ Miếu xưa vẫn dưới bóng tùng xưa Uy quyền họ Khổng giờ đâu nhỉ? Lấp loáng bia xưa chút ánh tà.
Quách Tấn dịch:
Mười chín tháng Năm thăm Khúc Phụ/ Tùng xưa miếu cũ thảy mơ màng/ Uy quyền họ Khổng rày đâu tá?/ Chỉ thấy bia tàn bóng tịch dương.
Mai Quốc Liên dịch: Mười chín tháng Năm thăm Khúc Phụ/ Tùng già miếu cũ dấu chưa nhòa/ Thế thần họ Khổng còn chi nhỉ?/ Hiu hắt bia xưa chút nắng tà.
Trần Đắc Thọ dịch:
Mười chín tháng Năm thăm Khúc Phụ/ Lờ mờ miếu cổ với tùng xưa/ Trọng Ni thế lực giờ đâu nhỉ?/ Chênh chếch bia xưa chút nắng mờ. Các dịch giả và số bản dịch tại Phần II cuốn sách như sau: Hồ Chí Minh, 1 bài; Huy Cận, 1; Khương Hữu Dụng, 3; Mai Quốc Liên, 1; Nam Trân, 1; Nguyễn Quảng Tuân, 2; Phan Văn Các, 19; Quách Tấn, 10; T. Lan, 1; Tố Hữu, 1; Trần Đắc Thọ, 28; Xuân Diệu, 1; Xuân Thủy, 3. (13) Việc ký tên hai người dưới bốn câu thơ dịch thật dễ gây phản cảm. Không rõ những người dịch thơ Nga, thơ Pháp có đề tên dịch giả như thế này không. Nhưng có điều chắc là Đỗ Văn Hỷ và Xuân Diệu không muốn thế. Hỏi ra, mới biết rằng trong một cuộc họp, Xuân Diệu có góp ý cho Đỗ Văn Hỷ về câu thơ đầu trong bản dịch bài Đến Quế Lâm. Góp ý được tiếp thu. Thế là khi in sách Tiểu ban đã trân trọng đặt tên Xuân Diệu lên trên Đỗ Văn Hỷ, ghi cuối bài thơ: "Mai Quốc Liên: Tạp luận, NXB. Văn học, H, 1999, tr.374. (15, 16) Xin xem Phan Ngọc: Câu chuyện tác giả "Ngục trung nhật ký" (trong Suy nghĩ mới về "Nhật ký trong tù", tr. 621. (Sđd). (17, 18) Xin xem: Nỗi niềm tưởng nhớ thầy Nam Trân…, trong Những gương mặt trí thức Việt Nam. Tập I. NXB. VHTT, H, 1998; tr.563-576. Nguồn: http://vanviet.info/tu-lieu/ban-dich-nhat-k-trong-t-nhung-dieu-trng-thay/ | ||||||
| Posted: 12 Sep 2018 06:41 PM PDT Xã Đoài, ngày 05 tháng 9 năm 2018 Việt Nam đã tham gia các công ước Quốc tế về nhân quyền. Hiến pháp và pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận những quyền căn bản đó của con người. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, xảy ra tình trạng nhà cầm quyền Việt Nam ngày càng gia tăng bắt giữ và kết án nặng nề đối với những người đấu tranh một cách ôn hòa cho nhân quyền và tự do. Đặc biệt, sau những biến động xã hội do thảm họa Formosa gây ra, khi tình hình tạm lắng, nhà cầm quyền lại gia tăng bắt bớ, bỏ tù những người đấu tranh đòi tôn trọng và bảo vệ môi trường. Nhiều người trong số họ bị cưỡng ép vào những tội danh nặng nề với những bản án hết sức hà khắc. Điều khủng khiếp ở đây là họ đã bị nhà cầm quyền bắt giam, điều tra và xét xử bằng những cách thức thiếu minh bạch, không đúng trình tự tố tụng như quy định của pháp luật, thiếu chứng cứ xác đáng, và những phiên tòa diễn ra chóng vánh, thiếu sự quan sát độc lập từ phía thân nhân cũng như của người dân. Chính vì thế, nhiều người trong số họ đã phản ứng chống lại bản án bất công và chế độ hà khắc của nhà tù bằng cách tuyệt thực. Bên cạnh đó, sự lạm quyền của lực lượng an ninh ngày càng gia tăng, và bằng các thủ đoạn tăm tối, họ đã hành xử cách bất công đối với những người bất đồng chính kiến, những người dám lên tiếng đòi hỏi nhân quyền, tự do tư tưởng và tự do tôn giáo một cách ôn hòa. Những băng nhóm được gọi là "quần chúng nhân dân tự phát" và "đội cờ đỏ" được thường xuyên sử dụng để hành hung, đe dọa, hạn chế quyền đi lại hoặc cư trú của những người bất đồng chính kiến. Mặt khác, các nhân viên an ninh Việt Nam cũng áp dụng việc cấm xuất nhập cảnh một cách tùy tiện. Một cách tổng quát: Tình hình nhân quyền tại Việt Nam trong những năm qua đã thể hiện những bước thụt lùi nghiêm trọng. Nhiều lúc lực lượng an ninh và cơ quan công quyền đã không tôn trọng chính Hiến pháp và pháp luật. Trước thực tế nêu trên, chúng tôi, Ban Công Lý và Hòa Bình của Giáo phận Vinh, lên tiếng để thức tỉnh những người hữu trách trong bộ máy cầm quyền, đặc biệt đề nghị lực lượng an ninh cần phải thượng tôn pháp luật và nghiêm chỉnh chấp hành các công ước Quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, để đảm bảo minh bạch và công bằng cho các tù nhân lương tâm. Chúng tôi cũng kêu gọi các tổ chức hoạt động vì nhân quyền và những người yêu chuộng tự do, công lý và hòa bình, đặc biệt người dân Việt Nam, cùng lên tiếng và chung tay góp sức trong việc bảo vệ nhân quyền, vì đó là những giá trị phổ quát, bất khả xâm phạm của con người mà chính Tạo hóa đã ban tặng. Cách riêng, dưới nhãn quan Kitô Giáo, mỗi người là chi thể trong thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô: "Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau" (x.1Cr 12,26). Vì thế, lên tiếng bênh vực, đồng hành với những người đang chịu bất công, đặc biệt các tù nhân lương tâm, đó là trách nhiệm và là mệnh lệnh lương tâm của các Kitô hữu. Chúng tôi tin rằng, nếu mọi người đều ý thức tôn trọng và bảo vệ nhân quyền thì tương lai tốt đẹp sẽ đến với đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta. TM. BAN CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH TRƯỞNG BAN
Lm. Antôn Nguyễn Văn Đính | ||||||
| Tại sao cần có quan điểm là chỉ được dùng nội tệ trong thanh toán trong nội bộ nền kinh tế? Posted: 12 Sep 2018 06:39 PM PDT Vũ Quang Việt 10 September 2018 Thông tư 19 (28/8/2018) có người cho rằng chỉ là tiếp nối của quyết định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2004 (SỐ 689/2004/QĐ-NHNN) cho phép dùng đồng Nhân dân tệ trong thanh toán xuất nhập khẩu với TQ ở vùng biên giới. Nhưng đọc kỹ thì thấy quyết định 2004 hạn chế hơn nhiều, chủ yếu là nhằm tới mua bán tại vùng biên giới "theo quy định tại Hiệp định về mua bán hàng hoá ở vùng biên giới", còn thông tư năm 19 là xuất nhập khẩu qua biên giới (tức là xuất nhập khẩu phục vụ toàn thị trường Việt Nam). Thông tư 19 viết trong Điều 1, ngoài buôn bán tại chợ biên giới còn nói rõ về "thanh toán trong hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ qua biên giới của thương nhân", và thanh toán bằng cả chuyển khoản và tiền mặt. Thông tư 19 là dựa trên Hiệp định Thương mại Biên Giới Việt Trung 2016 cho phép "thương mại biên giới được thực hiện thông qua các cửa khẩu biên giới đất liền và khu (điểm) chợ biên giới được hai Bên thỏa thuận nhất trí mở tại bảy tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên của Việt Nam và 2 tỉnh/khu Vân Nam và Quảng Tây của Trung Quốc." Hiệp định này đã do hai bộ trưởng công thương Trần Tuấn Anh và Cao Hổ Thành ký ngày 12/9/2016. Hiệp định 2016 này hình như không được đem ra Quốc hội bàn thảo và thông qua, và có vài đặc điểm sau: 1. Hiệp định và thông tư mở rộng diện giao dịch không chỉ với thương nhân và cư dân ở địa phương mà với doanh nghiệp khắp nước, cũng như quyền của địa phươngĐiều 1 của Hiệp định cho phép dùng nhân dân tệ không chỉ đối với cư dân biên giới mà, vì câu chữ mù mờ, có thể hiểu là đối với doanh nghiệp và thương nhân ở bất cứ đâu có buôn bán tại hay qua khu vực biên giới. "Thương mại biên giới" trong Hiệp định này là chỉ hoạt động thương mại của các doanh nghiệp hoặc thương nhân và cư dân biên giới được tham gia xuất nhập khẩu hàng hóa tại khu vực biên giới hai nước theo quy định của pháp luật mỗi nước. Hiệp định ở Điều 13 còn đi quá đà tạo ra sự tùy tiện khi thực hiện: "...ủy quyền cho cho chính quyền địa phương cấp tỉnh biên giới tương ứng của mỗi Bên ký kết các thỏa thuận cụ thể có liên quan trong khuôn khổ Hiệp định này." Hiệu định ở Điều 8 chấp nhận thanh toán bằng tiền mặt, khuyến khích thanh toán qua ngân hàng chứ không bắt buộc. "Khuyến khích thanh toán thông qua ngân hàng thương mại hai Bên." 2. Hiệp định mở rộng hành động giao dịch trong thanh toán của phía TQ Nhưng quan trọng hơn nữa là thông tư 19 qua Điều 11 cho phép mở rộng thêm các hoạt động như sau: · Cho phép thương nhân TQ, và ngân hàng TQ có chi nhánh ở vùng biên giới có nhiều tài khoản. · Cho phép họ có quyền chi "VND chuyển khoản để mua CNY hoặc ngoại tệ khác tại chi nhánh ngân hàng biên giới để chuyển về nước", tức là cho phép doanh nhân TQ tham gia vào buôn bán ngoại tệ mạnh, tất nhiên kể cả đầu cơ buôn tiền, ảnh hưởng đến thị trường ngoại hối ở Việt Nam. 3. Hiệp định có thể tạo ảnh hưởng khó lường với kinh tế Việt NamHiệp định mới cũng như Qui định 19 rõ ràng đã mở rộng về phạm vi thanh toán và sử dụng tiền so với trước đây, nhưng còn nhiều điều khác thì chỉ rõ với người soạn chúng và người tham gia hoạt động xuất nhập khẩu. Điều này cần tìm hiểu thêm. Tuy vậy, với quyền của phía TQ mua bán các loại ngoại tệ trên thị trường VN, và với tình trạng thiếu hụt buôn bán hàng năm của VN với TQ khoảng 20 đến 30 tỷ US, tức là khoảng 6-9% lượng tiền tệ trong nước, TQ có thể tạo ảnh hưởng mạnh đến thị trường Việt Nam. Hiện nay, để nhập khẩu, thương nhân và doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu phải dùng ngoại tệ mạnh (dư thừa trong buôn bán với Mỹ và các nước khác, cũng như kiều hối gửi về) đổi ra nhân dân tệ để mua hàng từ TQ. Nhưng với qui định mới, các nhà đầu cơ TQ nắm được lượng tiền VN tương đương với 20-30 tỷ USD có thể ảnh hưởng khó lường đến thị trường FDI, chứng khoán, trái phiếu, và đất đai và kể cả hối suất nếu họ bán tống tài sản, chuyển ra đồng ngoại tệ mạnh để chuyển về nước. Kịch bản trên không phải là kịch bản giả thuyết. Chính năm 1997, mấy tay tài phiệt buôn tiền như George Soros, khi các nước như Thái Lan, Mã Lai, Indonesia đang bị thiếu hụt cán cân thanh toán và hối suất so ra cao, đã tập trung đánh đồng bản tệ, bằng cách bán tháo cổ phiếu, trái phiếu và các tài sản khác rồi đổi ra đồng ngoại tệ (USD, Yen) và rút chạy. Các nền kinh tế trên gần như suy sụp, phải cầu viện IMF và chịu sự không chế của họ vì thiếu ngoại tệ đáp ứng, để trả nợ nước ngoài. Mã Lai là nước duy nhất cấm rút ngoại tệ mạnh chuyển ra nước ngoài trong 1 năm, và tránh khỏi khủng hoảng trầm trọng. Có người cho rằng nhiều nước khác cũng cho phép thanh toán bằng đồng thứ hai, thứ ba như Việt Nam. Tất nhiên không thể chối bỏ là có nước nhỏ bé và dựa vào hoạt động kinh tế Mỹ, như Panama, coi đồng tiền Mỹ là đồng tiền chính thức, hay vì không còn ai chấp nhận nội tệ do in nhiều quá để tiêu nên không còn giá trị gì đã phải bắt buộc dùng đồng USD là đồng chính thức; đấy là tình trạng ở Zimbawee, nơi tôi đã từng tới làm việc tư vấn, đồng tiền USD đã đuổi đồng nội tệ xấu mất giá ở mức phi mã ra khỏi thị trường, hoàn toàn thay thế nó toàn bộ mọi thanh toán ở bất cứ nơi nào, đến mức nhà nước phải trả lương bằng USD, dù trên danh nghĩa đồng hợp pháp là nội tệ. Như thế, muốn độc lập về tài chính thì phải thực hiện nguyên tắc đồng tiền thanh toán duy nhất là đồng nội tệ. Với tình hình lạm phát rất cao ở Việt Nam trước đây, đồng tiền Việt, đã bị USD và vàng gần như đuổi cổ khỏi thị trường. Hiện nay, và trong tương lai, nếu nhà nước chi nhiều hơn thu, lạm phát cao thì đồng nhân dân tệ, nếu được phép lưu hành, cũng có thể đuổi cổ đồng Việt Nam ra khỏi thị trường. Lúc đó, cũng như Hy Lạp vừa qua do đã chấp nhận đồng Euro là đồng chính thức, không thể điều chỉnh chính sách tiền tệ và điều chỉnh hối suất để giảm thiếu hụt cán cân mậu dịch, sẽ chỉ còn nước giảm chi tiêu, thải người, cắt lương hoặc xoè tay xin viện trợ, hoặc vay mượn của nước nắm quyền quyết định chính sách tiền tệ. Ở đây cũng xin giải thích thêm về tình hình ở Mỹ. USD là đồng tiền thanh toán hợp pháp (legal tender) được nhà nước bảo vệ giá trị. Mỹ lại chấp nhận nguyên tắc đồng USD là đồng tự do chuyển đổi, nên không ra lệnh không được dùng tiền nước ngoài trong thanh toán nhưng thực tế không ai dùng vì nó có giá trị do nền kinh tế Mỹ mạnh và vì những quy định khác như không bảo hiểm tiền gửi bằng ngoại tệ. Các nước mạnh khác cũng thế. Tất nhiên các nước yếu như Mã Lai, Thái Lan... để bảo vệ giá trị đồng bạc nội, họ cấm dùng ngoại tệ trong trao đổi, thậm chí khi cần họ kiểm soát nguồn ngoại tệ chảy ra nước ngoài, để bảo vệ đồng bạc. Vài đặc điểm về đồng USD có thể tóm tắt như sau: a) Đồng USD là legal tender, tức là đồng tiền chính thức mà chính phủ có nhiệm vụ phải bảo vệ giá trị. Trước đây, đồng USD được bảo vệ bằng vàng. NHNN các nước có thể chuyển USD thành vàng. Từ thời Nixon, bãi bỏ, và để thị trường tự do quyết định, nhưng chính phủ Mỹ qua FED (Ngân hàng Trung ương) sẵn sàng can thiệp để bảo vệ giá trị. b) Vì là legal tender, theo luật, mọi thanh toán như đóng thuế, đóng phí mua bán với với chính phủ Mỹ và cơ quan chính phủ phải bằng đồng USD. c) Federal Deposit Insurance Corporation (FDIC) chỉ bảo hiểm tiền gửi ở ngân hàng nếu bằng đồng USD, và không bảo hiểm foreign currency deposit accounts (tiềng gửi bằng ngoại tệ). Chính vì thế chẳng ai dại có tài khoản bằng ngoại tệ vì không được bảo hiểm. Tức là nếu ngân hàng thất bại, đóng cửa, bạn sẽ mất sạch. d) Với người speculator [đầu cơ] về tiền tệ, nếu muốn có tài khoản (accounts) bằng tiền nước ngoài, thì bạn có thể ra nhà băng ở Mỹ có chi nhánh ở nước ngoài, mở tài khoản cho bạn, nhưng thật ra là thông qua tài khoản của họ ở nước có đồng bạc bạn muốn như Yen Nhật hay đồng Yuan Tầu. Bạn đưa tiền Mỹ, họ sẽ đổi ra tiền Yuan và bỏ vào đó, khi bạn rút ra, họ không đưa tiền Yuan, nhưng dùng ở Mỹ phải đổi ra tiền USD. Như đã nói tài khoản ngoại tệ sẽ không có bảo hiểm của nhà nước Mỹ (theo luật FDIC) vì nhà nước không có nhiệm vụ này. e) Mọi thanh toán với nước ngoài, với giá trị 10 ngàn USD trở lên, phải báo trong ngày cho ngân hàng trung ương và cơ quan an ninh Mỹ FBI, dù gửi check, qua ngân hàng, qua bưu điện hay đem tiền qua hải quan. Bạn có thể đem tiền hay gửi tiền vào Mỹ với lượng không hạn chế, nhưng phải báo trước về người đem và người nhận. Mỹ không chỉ muốn kiểm soát lượng tiền tệ mà còn muốn kiểm soát hành động rửa tiền. f) Mỹ rất rộng rãi và tự do nhưng nhiệm vụ của FED (Ngân hàng Trung ương) là phải bảo vệ giá trị đồng tiền. Mỹ cũng có dự trữ các đồng nước ngoài, nhưng quan trọng nhất là đồng USD được thế giới coi là đồng dự trữ quan trọng nhất, và do đó chính nó là đồng dự trữ của Mỹ. FED có thể in tiền để mua ngoại tệ đưa vào dự trữ, kể cả in tiền nhằm tăng tín dụng tài trợ chi tiêu qua việc mua trái phiếu nhà nước nhằm ảnh hưởng đến lãi suất và hối suất. Nhưng thường họ chỉ làm thế trong trường hợp đặc biệt, như để cứu kinh tế như thời khủng hoảng năm 2007-09, vì không muốn tạo lạm phát. Mỹ làm thế được vì các nước sẵn sàng cầm đồng USD, tài trợ sức mua của Mỹ vì đồng USD là đồng mạnh, có giá trị. Hiện nay, 63% dự trữ ngoại tệ của thế giới là bằng đồng USD, phần còn lại là đồng Euro (20%), đồng Yen (5%), chỉ có 1,2% là đồng nhân dân tệ. FED và Bộ Tài chính Mỹ quyết định mua bán ngoại tệ, đưa vào dự trữ và bán ra khi cần để điều hành giá trị đồng USD. Mua hay bán, bao nhiêu là dựa vào ủy ban hợp tác giữa FDE và Bộ Tài chính. Nên nhớ chỉ có tiền giữ ở trong Ngân hàng Trung ương mới có thể gọi là dự trữ. Tiền nằm trong ngân hàng thương mại (dù quốc doanh hay không) không được coi là dự trữ. g) So với đồng USD, nhân dân tệ của TQ, dù đã được IMF chấp nhận là đồng tiền dự trữ mà các nước có thể dùng làm dự trữ, nó vẫn chưa phải là đồng tiền tự do chuyển đổi. Và tất nhiên ở TQ họ không cho phép mua bán bằng ngoại tệ (đây là hành động chợ đen, có thể bị bắt). Để bảo đảm giá trị và khả năng kiểm soát tiền tệ và tài chính, TQ vẫn còn ở chế độ kiểm soát ngoại tệ. TQ cấm dùng tiền nước ngoài trong thanh toán, cấm có tài khoản bằng ngoại tệ, trừ ở Hồng Kông, Singapore vì đó là nơi họ cho phép buôn bán đồng nhân dân tệ (tất nhiên lượng là do chính phủ TQ kiểm soát). Muốn đem tiền nước ngoài và NDT ra nước ngoài ở mức độ nhất định phải xin phép. TQ hiện nay có tới 3000 tỷ USD dự trữ ngoại tệ, trong đó ít nhất là 1200 tỷ US dưới hình thức trái phiếu nhà nước Mỹ. Vì đồng nhân dân tệ chưa được tin cậy, dù IMF quyết định coi nó là đồng dự trữ quốc tế. Kết luận Như tôi đã nói, nếu VN để sổng ngoại tệ tràn vào tay dân, hay thậm chí nằm trong ngân hàng thương mại mà không kiểm soát được thì sẽ không kiểm soát được tiền tệ và giá trị đồng bạc, và cũng không kiểm soát được lạm phát. Tiền Việt lại còn cho phép tràn vào tay TQ và đưa ra nước ngoài thì khó đoán được chúng làm gì, khi lượng nhiều, VN sẽ không kiểm soát được. Vì vậy mới có chuyện đô la hóa hay vàng hóa, và sắp tới có thể nhân dân tệ hóa. Tôi rất nghi ngờ khả năng chính phủ VN có thể kiểm soát, vì thông tư 19 đã mở rộng cho hoạt động xuất nhập khẩu, tất nhiên là của cả nước, qua biên giới chứ không chỉ áp dụng cho trao đổi hàng ở chợ biên giới. Như tôi đã nêu ngay doanh nghiệp biên giới đã có thể hiểu là doanh nghiệp ở nơi khác nhưng có chi nhánh ở biên giới. Còn ngân hàng tất nhiên không thể chỉ là ngân hàng biên giới, mà rõ ràng là nó chỉ là chi nhánh của ngân hàng nơi khác. Vậy thử hỏi khi nhận được Yuan không lẽ nó chỉ giữ ở chi nhánh biên giới? Không thể kiểm soát được là đương nhiên, vì chính hiện nay chính quyền cũng đã không kiểm soát nổi thương mại tiểu ngạch ở biên giới rồi (chuyển hàng lậu, không chứng từ, không khai báo với hải quan và không đóng thuế). Đã không kiểm soát được như thế, bây giờ với chính sách cho phép chính thức thì làm sao bịt được các nguồn hàng từ trong nội địa và từ biên giới vào nội địa. Như ta biết, tiền có thể mua được tất cả quan chức hiện nay. Do đó mà tôi thấy cần có quan điểm rõ ràng, và quan điểm của tôi là cấm trao đổi mua bán dùng tiền mặt nước ngoài. Trao đổi bằng tiền nội thì cần trả phí chuyển đổi từ ngoại tệ ra nội tệ hoặc ngược lại, nhưng đó là chuyện bình thường mà mọi nước chấp nhận. V.Q.V. Nguồn: http://viet-studies.net/kinhte/VuQuangViet_ChiDungNoiTe.html This posting includes an audio/video/photo media file: Download Now | ||||||
| Thành viên Hội Anh em Dân chủ bị xử 12 năm tù Posted: 12 Sep 2018 06:34 PM PDT Ông Nguyễn Trung Trực là một thành viên của Hội Anh em Dân chủ. Bản Ảnh: NGUYỄN VĂN MIẾNG/FACEBOOK Tòa án Quảng Bình đã kết án ông Nguyễn Trung Trực 12 năm 5 năm quản chế vì tội "Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền" trong phiên tòa sơ thẩm sáng nay.
Nguyễn Trung Trực là thành viên cuối cùng trong số chín thành viên lãnh đạo của Hội Anh em Dân chủ bị đưa ra xét xử, theo luật sư Nguyễn Văn Đài. Ông đã bị bắt giữ hồi tháng 7/2016. Theo luật sư Nguyễn Văn Miếng, thân chủ của ông vẫn khẳng định mình không có tội trước tòa. "Ông Trực nói trước tòa rằng 'Tôi là công dân Việt Nam, Nguyễn Trung Trực, tôi khẳng định là không có lật đổ bất cứ ai'" "Tôi ủng hộ và cổ súy cho dân chủ nhân quyền và bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Tôi khẳng định sẽ đấu tranh đến cùng cho đến khi những việc này được thực thi ở Việt Nam." Ông Trực cũng nói sẽ kháng cáo vì ông cho rằng bản án đó không đúng. Thêm vào đó, tại phiên tòa hôm nay, có rất nhiều công an trong cũng như bên ngoài tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình. 'Không có dấu hiệu để chứng minh phạm tội' Theo luật sư Miếng, nhiều bằng chứng kết tội ông Trực "không có dấu hiệu để chứng minh phạm tội." "Tất cả những chứng cứ tôi yêu cầu được đưa ra xem xét thì tòa không đồng ý. "Hầu hết những chứng cứ đó đều là những chứng cứ không có dấu hiệu để chứng minh tội phạm, chẳng hạn như mấy card visit của Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ, vài ba quyển sách, những cái lá đơn ông Trực viết cho những người để bồi thường Formosa". Người thân và ủng hộ ông Trực ngồi gần cổng tòa án. Luật sư Nguyễn Văn Miếng cho biết có rất nhiều công an trong và bên ngoài phiên tòa. Ảnh: NGUYỄN THỊ HƯƠNG/FACEBOOK "Nói chung là không có dấu hiệu gì để cho là lật đổ chính quyền nhân dân cả. Tôi không biết những trường hợp ấy phải xử theo cái hướng nào nhưng nếu xử là lật đổ chính quyền nhân dân thì coi như là o ép ông ấy." Ông Miếng cho biết thân chủ của ông cho rằng bản kết luận điều tra và cáo trạng là suy diễn, và theo hướng tiêu cực để kết tội ông Trực. Báo Công an hồi tháng 9/2017 đưa tin rằng Nguyễn Trung Trực từng "rất tích cực viết các tài liệu phản động có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc về Việt Nam; trả lời phỏng vấn và tham gia các cuộc biểu tình bất hợp pháp tại Malaysia." Trước đó, vào tháng Tư, bốn thành viên của Hội Anh em Dân Chủ (HAEDC) đã bị kết án với cùng tội danh với ông Trực. - Luật sư Nguyễn Văn Đài bị 15 năm tù, 5 năm quản chế. - Ông Trương Minh Đức nhận bản án 12 năm tù, 3 năm quản chế - Ông Nguyễn Trung Tôn bị 12 năm tù, 3 năm quản chế - Ông Nguyễn Bắc Truyển bị 11 năm tù, 3 năm quản chế - Bà Lê Thu Hà bị 9 năm tù, 2 năm quản chế - Và ông Phạm Văn Trội bị 7 năm tù, 1 năm quản chế. Phiên tòa phúc thẩm hồi tháng Sáu cũng tuyên y án đối với bốn thành viên HAEDC. Sau đó ông Đài và cộng sư Lê Thu Hà đã được trả tự do và xuất cảnh sang Đức. Bốn thành viên của Hội Anh em Dân chủ, trong đó có Luật sư Nguyễn Văn Đài, bị tuyên mức án tổng cộng là 66 năm tù giam trong một phiên tòa từ trước tại Việt Nam. Ảnh: AFP Ông Trực là ai, đã làm gì? Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) trước đó đã kêu gọi nhà nhà cầm quyền Việt Nam cần hủy bỏ mọi cáo buộc đối với Nguyễn Trung Trực về các hoạt động nhân quyền ôn hòa và phóng thích ông ngay lập tức. Theo HRW, ông Nguyễn Trung Trực, 44 tuổi, đã có quá trình tham gia các hoạt động ủng hộ dân chủ lâu dài. Ông từng là thuyền nhân trong trại tị nạn ở Hồng Kông hơn bảy năm vào thập niên 1990, sau đó bị trục xuất về Việt Nam vào năm 1997. Năm 2003, ông đi làm ở Malaysia, nơi ông tham gia Phong trào Chấn hưng nước Việt do các nhà hoạt động nhân quyền Vũ Quang Thuận và Lê Thăng Long thành lập. Phong trào này vận động cho một nước Việt Nam có hệ thống chính trị dân chủ, đa đảng. Trước đó hôm 10/8, luật sư Nguyễn Văn Đài đã có một bài viết trước phiên tòa xét xử sơ thẩm ông Trực. Cáo buộc tuyên truyền chống cái gọi là "Nhà nước CHXHCN Việt Nam" ông Đài cho rằng là "hết sức phi lý và có tính chất quy chụp". Ông Nguyễn Trung Trực (phải) trong một lần tiếp xúc với Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi. Ảnh: HỘI ANH EM DÂN CHỦ/FACEBOOK "Lý do là bởi vì các thành viên của Hội Anh em Dân chủ chỉ sử dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để bày tỏ các quan điểm cá nhân về chính trị, kinh tế, xã hội đã và đang xảy ra ở Việt Nam." "Họ có quyền lên án, phê phán các chính sách, việc làm của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, khi gây tổn hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc và lợi ích trực tiếp của chính họ. Đó là các quyền hợp hiến và hợp pháp của các thành viên Hội." "Các việc làm này của họ, theo tôi, không bao giờ là nhằm tuyên truyền chống cái gọi là 'Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam' hay có thể nhằm lật đổ cái gọi là 'Chính quyền Nhân dân'". Nguồn: https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-45492839
Xem thêm:
Tổ chức Theo dõi Nhân quyền: Việt Nam hãy hủy bỏ cáo buộc đối với nhà hoạt động nhân quyền Nguyễn Trung Trực Quỳnh Dao thông tin Hôm nay, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu rằng nhà cầm quyền Việt Nam cần hủy bỏ mọi cáo buộc đối với Nguyễn Trung Trực về các hoạt động nhân quyền ôn hòa và phóng thích ông ngay lập tức. Nguyễn Trung Trực bị bắt từ tháng Tám năm 2017 vì tham gia nhóm nhân quyền có tên là Hội Anh em Dân chủ. Nhà cầm quyền Việt Nam cáo buộc ông "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" theo điều 79 của bộ luật hình sự năm 1999. Tòa án Nhân dân tỉnh Quảng Bình dự kiến sẽ xử vụ của ông vào ngày 12 tháng Chín năm 2018. "Nguyễn Trung Trực lại là một nạn nhân nữa trong chiến dịch của chính quyền Việt Nam chống lại những người vận động cho nhân quyền và dân chủ," ông Phil Robertson, Phó Giám đốc Ban Á châu của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói. "Đất nước Việt Nam giờ đây đang trở thành một nhà tù khổng lồ cho bất kỳ người nào lên tiếng phản đối chính quyền hay hoạt động nhằm thúc đẩy các quyền con người cơ bản." Nguyễn Trung Trực, 44 tuổi, đã có quá trình tham gia các hoạt động ủng hộ dân chủ lâu dài. Ông từng là thuyền nhân trong trại tị nạn ở Hồng Kông hơn bảy năm vào thập niên 1990, sau đó bị trục xuất về Việt Nam vào năm 1997. Năm 2003, ông đi làm ở Malaysia, nơi ông tham gia Phong trào Chấn hưng nước Việt do các nhà hoạt động nhân quyền Vũ Quang Thuận và Lê Thăng Long thành lập. Phong trào này vận động cho một nước Việt Nam có hệ thống chính trị dân chủ, đa đảng. Theo Lê Thăng Long, mục tiêu của phong trào là thúc đẩy "hợp tác, cải tiến, bất bạo động, đối thoại, lắng nghe, vì quyền lợi chung lâu dài của dân tộc." Báo công an hồi tháng Chín năm 2017 đưa tin rằng Nguyễn Trung Trực từng "rất tích cực viết các tài liệu phản động có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc về Việt Nam; trả lời phỏng vấn và tham gia các cuộc biểu tình bất hợp pháp tại Malaysia." Chính quyền Malaysia trục xuất ông về Việt Nam hồi tháng Chín năm 2012. Tháng Tám năm 2015, Nguyễn Trung Trực gia nhập Hội Anh em Dân chủ, do nhà vận động nhân quyền Nguyễn Văn Đài và các nhà hoạt động bạn bè của ông thành lập từ tháng Tư năm 2013. Với mục tiêu được ghi rõ là "bảo vệ các quyền con người đã được Hiến pháp Việt Nam và các Công ước quốc tế thừa nhận" và "vận động xây dựng một xã hội dân chủ tiến bộ, công bằng và văn minh tại Việt Nam," Hội Anh em Dân chủ cung cấp một mạng lưới cho các nhà hoạt động cả trong và ngoài nước, những người muốn vận động cho dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam. Nguyễn Trung Trực làm người đại diện của hội ở miền Trung Việt Nam. Ông tham gia các cuộc biểu tình chống Formosa - một công ty thép Đài Loan đã xả chất thải độc xuống biển gây ra thảm họa môi trường lan rộng dọc bờ biển miền Trung Việt Nam vào tháng Tư năm 2016. Tháng Bảy năm 2016, Nguyễn Trung Trực cùng bảy người nữa tới Cửa Lò, tỉnh Nghệ An để dự đám cưới một người bạn hoạt động. Một nhóm vài chục người mặc thường phục đã tấn công và đánh đập họ dã man, tước đoạt điện thoại, ví và giấy tờ của họ. Những kẻ thủ ác đã bỏ họ ở một khu rừng vắng. Nguyễn Trung Trực cho biết ông bị thâm tím ở lưng, chảy máu ở miệng, mũi và tai, và sau đó phải đi khâu chỗ rách ở tai. Nguyễn Trung Trực là thành viên thứ chín của Hội Anh em Dân chủ bị đưa ra xử, tính từ đầu năm 2018. Hồi tháng Tư, nhà cầm quyền đã kết tội và áp mức án từ bảy đến mười lăm năm tù đối với tám người – Nguyễn Văn Đài, Lê Thu Hà, Nguyễn Trung Tôn, Trương Minh Đức, Nguyễn Bắc Truyển, Phạm Văn Trội, Nguyễn Văn Túc và Trần Thị Xuân. Vào tháng Sáu, dưới sức ép quốc tế, chính quyền Việt Nam phóng thích Nguyễn Văn Đài và Lê Thu Hà với điều kiện họ phải đi lưu vong ở Đức. "Hội Anh em Dân chủ đang bị đàn áp liên tục, chính quyền Việt Nam tìm cách trừng phạt những người lãnh đạo Hội vì dám vận động cho các quyền tự do cơ bản để cất lên tiếng nói, tham gia một tổ chức và biểu tình ôn hòa," ông Robertson nói. "Các nhà tài trợ và đối tác thương mại quốc tế của Việt Nam cần yêu cầu Hà Nội tôn trọng các quyền tự do cơ bản và chấm dứt việc biến những phê phán chính quyền thành tội hình sự". Muốn có thêm thông tin về tù nhân chính trị Việt Nam, vui lòng truy cập: https://www.hrw.org/vi/video-photos/interactive/2017/11/02/free-vietnams-political-prisoners Muốn đọc thêm tin, bài của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền về Việt Nam, vui lòng truy cập: https://www.hrw.org/vi/asia/vietnam Q.D.
VNTB gửi BVN
| ||||||
| Giải mã khủng hoảng truyền thông Mỹ: một góc nhìn khác Posted: 12 Sep 2018 06:31 PM PDT Nguyễn Quang Dy Không có một quốc gia nào trên thế giới có tần suất khủng hoảng truyền thông nhiều như Mỹ. Khủng hoảng truyền thông như cơm bữa làm người Mỹ cũng quen như "chuyện bình thường" (new normal). Đó là một đặc thù kiểu Mỹ không thể lẫn, làm cho nước Mỹ hấp dẫn và mạnh. Tu Chính Án Thứ Nhất (First Amendment) về tự do báo chí là một trụ cột của sức mạnh Mỹ (đang bị Trump thách thức). Đối với nhiều người, thật khó phân biệt khi nào khủng hoảng truyền thông biến thành khủng hoảng chính trị, hay khủng hoảng Hiến pháp. Có lẽ bóng ma Watergate không bao giờ chết, và Tu Chính Án Thứ 25 là một răn đe đối với bất kỳ tổng thống nào không muốn làm theo luật chơi. Đó là nghịch lý của hệ thống chính trị đã làm cho nước Mỹ trở thành độc đáo (exceptionalism), nhưng cũng dễ tổn thương. Những quả bom truyền thông Tuần qua có hai sự kiện truyền thông lớn làm rung động chính quyền Trump, trong khi cuộc điều tra của Robert Mueller vẫn như "thanh gươm Damocles" đang treo lơ lửng trên đầu tổng thống Trump. Thứ nhất là bài báo nặc danh (anonymous op-ed) đăng trên New York Times (5/8/2018) mà tác giả là "một quan chức cao cấp của chính quyền" (a senior administration official) cùng một nhóm phản kháng ngầm chống đối Trump. Tuy hiện tượng "rò rỉ thông tin" (leaking) là chuyện thường xuyên trong Nhà Trắng, nhưng sự kiện đầy kịch tính này đang làm cho Nhà Trắng đau đầu đối phó, như phải dập một đám cháy lớn. Tuy các quan chức hàng đầu Nhà trắng đã lên tiếng phủ nhận, và Trump đã yêu cầu Bô trưởng Tư pháp phải điều tra, nhưng sau một tuần vẫn chưa biết ai là thủ phạm. Sự kiện thứ hai là cuốn sách mới của nhà báo Bob Woodward ("Fear: Trump in the White House, Simon & Schuster", September 11, 2018) như một quả bom truyền thông. Cuốn sách này được công bố chỉ một ngày sau sự kiện bài báo nặc danh trên New York Times. Sự trùng hợp về thời điểm, cũng như nội dung câu chuyện được kể làm cho đám cháy và quả bom này tai hại hơn nhiều đối với Trump (khi cuộc bầu cử giữa kỳ đang tới gần). Cách đây không lâu, có mấy sự kiện truyền thông khác cũng làm dư luận xôn xao. Đó là cuốn sách của nhà báo Michael Wolff ("Fire and Fury", Holt, January 5, 2018), và cuốn sách của Omarosa Manigault là một trợ lý Nhà Trắng bị sa thải, ("Unhinged: An Insider's Account of the Trump's White House", Simon & Schuster, August 14, 2018). Nhưng so với hai sự kiện truyền thông đó, quả bom Woodward có sức công phá lớn hơn nhiều, như một quả "bom tấn". Bob Woodward là một nhà báo kỳ cựu của Washington Post, không phải là một tác giả bình thường mà là một tên tuổi lớn của báo chí Mỹ mà các tổng thống đều biết tiếng (và ngại). Ông là tác giả của 18 cuốn sách viết về các đời tổng thống Mỹ, từ thời Richard Nixon (và bi kịch Watergate), trong đó có 12 cuốn được xếp hạng "bán chạy nhất toàn quốc" (number one national best seller). Woodward giành được 2 giải Pulitzer (một thành tích hiếm có đối với các nhà báo). Woodward nổi tiếng không phải chỉ vì viết nhiều về chuyện cung đình, mà còn do uy tín và chất lượng. Woodwar rất thận trọng kiểm tra lại các nguồn được trích dẫn, và trong cuốn sách mới ông đã trích dẫn một cách gián tiếp (mà ông gọi là "deep background"). Tuy hãy còn quá sớm để đánh giá hệ quả của các sự kiện truyền thông nói trên, nhưng có thể hình dung nước Mỹ đang trải qua một cuộc khủng hoảng truyền thông, gắn liền với một cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc, đụng chạm những vấn đề cơ bản của thể chế chính trị. Có lẽ đây là vấn đề toàn cầu chứ không riêng nước Mỹ, nhưng nó được bộc lộ rõ hơn ở Mỹ. Những giá trị cơ bản của dân chủ tự do (liberal democracy) và tự do ngôn luận (freedom of speech) đang bị thách thức. Không phải ngẫu nhiên mà Trump tỏ ra thù địch với báo chí, thường gọi báo chí là "tin vịt" (fake news) và gọi các nhà báo là "kẻ thù của nhân dân" (enemy of the people). Không phải chỉ tự do ngôn luận, mà "chính trị bản sắc" (identity politics) cũng bị thách thức, phản ánh xu hướng bảo thủ mới (neo-conservatism) và dân túy (populism). Một nước Mỹ bị chia rẽ Trong bối cảnh đó, cuộc bầu cử giữa kỳ sắp tới (11/2018) có ý nghĩa quan trọng. Thứ nhất, nó định vị lại tâm trạng và thái độ của cử tri Mỹ đối với Trump mà họ đã bỏ phiếu ủng hộ cách đây gần hai năm, và dự báo xu hướng chính trị hai năm tới khi cử tri Mỹ bầu lại Tổng thống. Thứ hai, nó xác lập lại cán cân chính trị giữa hai đảng Cộng hòa và Dân chủ trong Quốc hội. Trump dễ sa vàò một cuộc khủng hoảng chính trị và hiến pháp, nếu phe Dân chủ chiếm được đa số, và điều tra của Robert Mueller khẳng định sự dích líu của Trump với người Nga trong tranh cử năm 2016, mở ra khả năng phế truất (theo "25th amendment"). Ngày 16/8/2018, có 343 tờ báo khắp nước Mỹ đã hưởng ứng lời kêu gọi của báo Boston Globe, cùng đăng xã luận để phản đối "cuộc chiến tranh bẩn thỉu" (dirty war) của Trump chống lại tự do báo chí. Tuy có rất nhiều báo tham gia, trong đó có những báo lớn như New York Times, nhưng cũng còn nhiều báo khác không tham gia (như Wall Street Journal). Không phải chỉ nước Mỹ bị chia rẽ mà báo chí Mỹ cũng đang bị phân hóa. Có lẽ đó là hệ quả không định trước của bầu cử Tổng thống Mỹ cuối năm 2016 như một sự kiện chính trị chia rẽ nước Mỹ chưa từng có, làm nhiều người gọi nước Mỹ là "the Divided States of America". Trong bài xã luận với tiêu đề "Tự do báo chí cần các bạn", báo New York Times viết rằng nếu gọi sự thật mà mình không thích là "tin vịt" (fake news) "là nguy hiểm cho dòng chảy của dân chủ" (dangerous to the lifeblood of democracy), và gọi báo chí là "kẻ thù của nhân dân" là nguy hiểm cho các nhà báo. Khi gặp riêng Tổng thống Trump (tháng 7/2018), ông AG. Sulzberger (Chủ báo New York Times) đã nói "ngôn từ của tổng thống đang góp phần làm tăng nguy cơ đối với các nhà báo và dẫn đến bạo lực". Tuy Trump nổi tiếng hay nói dối, nhưng ông cũng hay dùng những từ ngữ thô thiển để thóa mạ những người mà ông không thích, thậm chí cả phụ nữ như Omarosa Manigault, là "hạ đẳng" (lowlife) và "đồ chó" (dog). Theo kết quả khảo sát dư luận của đại học Quinnipiac University, trong khi "51% cử tri đảng Cộng hòa cho rằng báo chí là "kẻ thù của nhân dân", thì 65% cử tri nói chung cho rằng báo chí là một phần quan trọng của nền dân chủ. Một khảo sát khác trong tháng này cũng có kết quả tương tự: 48% cử tri đảng Cộng hòa cho rằng báo chí là "kẻ thù của nhân dân Mỹ", và 28% bất đồng. Trong khi đó, 23% những người ủng hộ đảng Cộng hòa (và 1/8 người Mỹ nói chung) cho rằng Trump nên đóng cửa CNN, Washington Post và New York Times. Đổi mới tư duy và hệ quy chiếu Đó là vắn tắt mấy nét (hơi tiêu cực) về bức tranh chính trị nội bộ của Mỹ vào thời điểm này, trong khi bức tranh kinh tế và chính trị quốc tế của chính quyền Trump có vẻ sáng sủa và tích cực hơn, nhất là về triển vọng chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, đang bước vào giai đoạn hai (từ 6/9/2018). Thành tích đối ngoại của Trump (với Triều Tiên chẳng hạn) cũng không thể phủ nhận. Trong số các tổng thống Mỹ còn sống, chỉ có Trump dám đối đầu với Trung Quốc. Nhưng các thực tế đó có thể bị hình ảnh tiêu cực trong nước làm lu mờ và méo mó. Đó là những khác biệt dễ nhầm lẫn, cũng như tính cách bất thường, khó đoán của Trump. Vì vậy, đánh giá về Trump là một việc khó, dễ ngộ nhận và nhầm lẫn. Gần đây, quan điểm đánh giá về Trump có sự phân hóa theo hướng hơi vũ đoán (như "thầy bói sờ voi"). Một số người chỉ trích Trump thậm tệ (bất chấp những thành tích khó phủ nhận), trong khi một số khác khen ông hết lời (bất chấp những bê bối cũng khó phủ nhận). Không phải chỉ có Trump (hay Trumpism) có vấn đề, mà cả những người ủng hộ hay phản đối Trump cũng vậy, vì thế giới này không chỉ có sự thật, mà còn nửa sự thật (half-truth), hay "hậu sự thật" (post-truth). Muốn hiểu và lý giải được những biến đổi chính trị đang diễn ra tại Mỹ và trên thế giới với những ẩn số và biến số khó lường (giống như biến đổi khí hậu hiện nay), người ta cần đổi mới tư duy và hệ quy chiếu (paradigm). Nếu muốn hướng tới thế giới công nghệ 4.0 mà vẫn bám giữ vào hằng số tư tưởng 0.4 của thế giới cũ, người ta sẽ tiếp tục mắc kẹt vào tư duy nguyên trạng (status quo mindset) của trật tự thế giới cũ (như tù binh của quá khứ), và lạc trong ma trận của trật tự thế giới mới vẫn chưa định hình, nên càng dễ ngộ nhận và nhầm lẫn. Không chỉ Mỹ và trật tự thế giới đang bị đảo điên, mà tư duy con người đang bị khủng hoảng. 11/9/2018 N.Q.D. Nguồn: http://viet-studies.net/kinhte/NQuangDy_GiaiMaTruyenThongMy.html |
| You are subscribed to email updates from Bauxite Việt Nam. To stop receiving these emails, you may unsubscribe now. | Email delivery powered by Google |
| Google, 1600 Amphitheatre Parkway, Mountain View, CA 94043, United States | |
0 nhận xét:
Đăng nhận xét